View Full Version : ‘Những điều chưa biết về Mao’
adams
03-12-2011, 01:07 PM
Những điều chưa biết về Mao: Công tŕnh biên tập đồ sộ công phu
Jung Chang & Jon Halliday
Bùi Tín lược thuật
Cuốn sách đồ sộ, khổ lớn, hơn 800 trang, mang tựa đề Mao - An Unknown Story (nhà xuất bản Globalflair), bản tiếng Pháp Mao - Histoire Inconnue (nhà xuất bản Gallimard), tạm dịch sang tiếng Việt là Những điều chưa biết về Mao, mới phát hành đầu năm 2007, đă được giới đọc sách và nghiên cứu khắp nơi rất chú ư.
Đây là một bản tiểu sử khá đầy đủ, rất độc đáo về Mao Trạch Đông, sinh tại Hồ Nam ngày 26-12-1893, một nhân vật chính trị tiêu biểu cỡ quốc tế, lănh tụ cao nhất của đảng Cộng sản Trung quốc thành lập từ tháng 7 năm 1921, đứng đầu nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa đông dân nhất thế giới từ 1-10-1949 đến khi tắt thở vào ngày 9 tháng 9 năm 1976, thọ 83 tuổi.
Cuốn sách độc đáo v́ tác giả chính của nó là nữ giáo sư ngôn ngữ học trường Đại Học York ở nước Anh JUNG CHANG (tiếng Việt là Trương Nhung), người gốc Trung quốc; đồng tác giả cuốn sách là JON HALLIDAY, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử của trường Đại học London, chồng bà Jung.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/f/f6/Mao_Unknown_Story_US_cover.jpg
Trên mạng Talawas, trước đây các bạn Hoài Phi và Vi Huyền đă dịch bài viết tiếng Anh của Ronald Radosh ''Lột trần chân tướng của Mao'' điểm cuốn sách trên đây, một vài báo và mạng cũng giới thiệu qua, nhưng đáng tiếc là c̣n sơ sài, giản đơn, so với một công tŕnh hơn 800 trang.
Jung Chang sinh năm 1952 trong một gịng họ quư tộc ở Măn châu sớm tham gia phong trào cách mạng do đảng Cộng sản khởi xướng. Năm mới 14 tuổi cô gái học sinh trung học Jung tươi trẻ, thông minh, hăng say tham gia hàng ngũ Hồng Vệ Binh của Mao Chủ tịch, sau đó bị xua đuổi về nông thôn và trong nhà máy để cải tạo tư tưởng, dọn dẹp những đổ nát tan hoang do chính họ gây nên. Jung trở lại trường học, cặm cụi học tiếng Anh để thành cô giáo Anh văn trong trường đại học Tế Xuyên. Thế rồi cơ duyên dun dủi, năm 1978 cô được học bổng sang Anh, gặp Jon, rồi ở lại London sinh sống và lập nghiệp.
Lần đầu tiên tôi làm quen với vợ chồng JUNG Chang - JON Halliday là vào tháng 5 năm 1995, qua một bạn trong ban tiếng Việt đài phát thanh BBC ở thủ đô London. JUNG và JON có nhă ư mời chúng tôi đến nhà riêng dự bữa cơm thân mật. Lúc ấy cuốn sách đầu tay của JUNG xuất bản cuối năm 1993 Wild Swans được dịch sang tiếng Pháp Les Cygnes Sauvages («những con thiên nga hoang dă») cùng với hơn một chục thứ tiếng khác, đạt kết quả đặc biệt trên thị trường quốc tế, đến nay đă bán 10 triệu cuốn. Chuyện kể tỉ mỉ, sinh động, lạ lẫm, về cuộc đời đầy bi kịch của 3 người đàn bà Trung hoa là bà ngọai, mẹ và bản thân JUNG, đượm mùi vị và mầu sắc rất riêng, đă hấp dẫn độc giả phương Tây.
Sau bữa ăn buổi gặp ấy, JUNG và JON giữ tôi lại rất khuya để tṛ chuyện về đủ loại t́nh h́nh, về quan hệ Việt - Trung, về sự kiện Thiên An Môn, về các nhà đối lập của 2 nước, về chế độ phong kiến châu Á...JUNG có trí nhớ hiếm đầy h́nh ảnh, tác phong nhậy bén của nhà báo - mồm nói tay ghi, luôn có nhận xét tinh tế riêng. JON có dáng vẻ thâm thuư thận trọng của nhà nghiên cứu. Anh ấy từng sống ở Liên Xô, Anbani, từng thuộc trí thức cánh tả, nay đă chuyển chiến tuyến; bản tiếng Anh tác phẩm của JUNG không thể thành và chinh phục độc giả nếu không có JON.
JUNG và JON hôm ấy đă có ư định viết về Mao. ''Hay quá ! tuyệt quá !'', tôi nhiều lần thốt lên về ư định ấy. JUNG hỏi người Việt nghĩ ra sao về Mao ? Tôi trả lời vắn tắt: nói chung là sùng bái như sùng bái Hồ Chí Minh; có khi c̣n hơn; nhưng đă có thay đổi, sau khi Liên Xô tan ră, phong trào cộng sản suy thoái, sự đánh giá đầy mâu thuẫn, bấp bênh, nhiều vẻ đậm nhạt, và cả hoang mang...
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/_41192285_hallidaychang_203.jpg
Hai tác giả đă bỏ 10 năm để viết sách này
JUNG và JON cho rằng phải mất 4, 5 năm để hoàn thành. Từ đó đến nay đă hơn 10 năm. Đủ biết công sức bỏ ra không nhỏ, của cả hai người. Để thực hiện ư định họ nói hôm ấy: sự thật về Mao, sự thật trên hết, sự thật trước hết, chỉ có sự thật mà thôi.
Để thực hiện phương châm ấy, JUNG và JON lao vào việc với nhịp độ kinh người. Hàng trăm chuyến đi xa. Chui vào các kho hồ sơ lưu trữ mật, ''tuyệt mật'',''siêu mật''... ở Bắc kinh, Moscow, Berlin, Sofia (Bulgari), Washington DC, Anh, Thuỵ Sĩ... để t́m kiếm, ghi chép, chụp tài liệu hiếm quư mới, thẩm tra tài liệu cũ.
Lại c̣n gặp lại vài trăm, vâng chừng hai trăm nhà chính khách, tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, nghị sĩ, học giả, kư giả, nhà hoạt động xă hội, từ thiện, tôn giáo ...ở mọi khu vực, mọi nước từng có dịp gặp Mao để hỏi kỹ, ''moi'' thêm từ những chi tiết nhỏ nhất. Cũng phải t́m gặp hàng trăm chính khách, nhà truyền thông, nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh thuộc cánh tả thời cũ, những người từng tin cậy, mê say, sùng bái, tôn thờ Mao để t́m hiểu động cơ nào thúc đẩy họ một thời mù quáng đến vậy.
Công việc sưu tầm tài liệu phong phú nhưng vất vả nhất là trên đất Trung quốc mênh mông. Một danh sách vài trăm người nữa cần gặp, phỏng vấn, gợi chuyện, ghi âm và đối chiếu sàng lọc. Bắc kinh, Thượng Hải, Hồng Công, Nam Kinh, Qủang Châu, Vũ Hán, Trường sa, Trùng Khánh, Tây An, Diên An, các tỉnh Giang Tây, Quư Châu, Tế Xuyên, Cam Túc, Ninh Hạ, Thiểm Tây...
Họ là những ai vậy ? Họ là con rể và cháu nội của Mao Trạch Dân, em ruột của Mao (về tên người trong bài này Mao là chỉ Mao Trạch Đông; chúng tôi dùng tên đă Việt hóa; khi chưa Việt hóa được th́ dùng phiên âm la-tinh hóa). Họ là Lư Nạp (Li Na), con gái của Mao với Giang Thanh, là Lưu Tùng Lâm (Liu Song Lin), vợ của Mao Ngạn Anh con cả của Mao, là Mao Tân Vũ (Mao Xin-yu), con của Ngạn Anh, cháu nội của Mao hiện c̣n sống, gần 60 tuổi; là bà Trương Văn Khưu (Zhang Wen-qiu), thông gia với Mao.
Đó là Lư Thục Nhất (Li Shu-yi) bạn của Mao từ những năm 1920; là Lưu Anh (Liu Ying) bạn của Mao từ những năm 1930, vợ của Lạc Phủ; là Tăng Chí (Zeng Zhi) bạn của Mao, vợ của Đào Chú..
Đó là gần 2 chục y tá, phiên dịch, bảo vệ, phục vụ gần, các cô '' trợ lư '' thân mật, trong đó nổi nhất là Trương Ngọc Phượng (Zhang Yu Feng), Trương Hàm Chi (Zhang Han-zhi), Châu Phúc Minh (Zhou Fu-ming), Mạnh Cẩm Vân (Meng Jin-yun) và Đường Văn Sinh (Tang Wen Sheng, c̣n có tên Nancy Tang) phiên dịch tiếng Anh của Mao...
Lại c̣n các con cháu các cụ , trong gia đ́nh các quan chức lớn từng phục vụ Mao, như Trần Hạo Tô (Chen Hao-su) con trai tướng Trần Nghị; Li Lisa (người Nga) vợ Lư Lập Tam; Li Inna, con gái Lư Lập Tam ; Lâm Lập Hành (Lin Li-hang) con gái Lâm Bưu; Lưu Thạch Côn (Liu Shi-kun) con rể Diệp Kiếm Anh, nghệ sỹ dương cầm; Tần Tế Mă (Qin Ji-ma) con gái của Bác Cổ; Vương Đan Chi (Wang Dan-zhi) con trai của Vương Minh; Vương Quang Mỹ (Wang Guang Mei) vợ của Lưu Thiếu Kỳ; Tiết Minh (Xue Ming) vợ của tướng Hạ Long; Trương Ninh (Zhang Ning) vợ của '' Hổ '' con trai Lâm Bưu; Trương Thanh Lâm (Zhang Qing -lin) con rể của Lâm Bưu. Bản danh sách c̣n dài, hơn 1 trăm cán bộ, sĩ quan, các cấp, các ngành, từ nguyên uỷ viên Bộ chính trị, uỷ viên trung ương đảng, cho đến người thư kư, nhiếp ảnh, truyền tin, lái xe, nấu bếp, vệ sĩ cho các vị trên đây. Lại c̣n 67 người là chứng nhân sống của những sự kiện lịch sử, từng dự các đại hội đảng, từng dự cuộc Vạn lư Trường chinh, từng sống ở Diên An với Mao, từng làm việc với vợ chồng Tôn Dật Tiên - Tống Khánh Linh, từng là nạn nhân của những cuộc thanh trừng kinh khủng của Mao, từng dự các phiên toà xử lũ 4 tên, từng là Hồng Vệ Binh ṇng cốt, sống sót qua những trại cải tạo của Mao...
Tác giả c̣n nhiều lần sang Đài Loan gặp trực tiếp 14 nhân vật từng quan hệ với Mao, từ Trần Lập Phu (Chen Li-fu) bạn thân của Tưởng Giới Thạch, Tưởng Duy Quốc (Chiang Wei-go) con nuôi của Tưởng, những thủ tướng, bộ trưởng của Tưởng, người lái máy bay riêng của Tưởng, các bạn thân c̣n sống của Tưởng Kinh Quốc, con trai duy nhất của Tưởng Giới Thạch...
Thú vị nhất có lẽ là cuộc gặp Trương Học Lương (Zheng Xue Liang) vào năm 1993, một tay quân phiệt vùng Măn Châu, từng thực hiện cuộc bắt cóc Tưởng Giới Thạch ngày 12 tháng 12 năm 1936 ở Tây An(Thiểm Tây), tưởng rằng lập công với đảng Cộng sản để rồi ngay sau đó do bị Staline phản đối (nhằm giữ vững chủ trương Đoàn kết Quốc-Cộng, thực hiện Mặt trận Thống nhất chống Nhật) Trương Học Lương đă phải đích thân cùng Chu Ân Lai đưa Tưởng trở lại Nam kinh, lại c̣n tự thú đầu hàng và xin nhận Tưởng là Bố nuôi (!); Trương bị Tưởng bỏ tù rồi đưa sang Đài loan giam lỏng; sau khi Tưởng chết (năm 1975) Trương được tổng thống Đài loan Lư Đăng Huy cho tự do, Trương sang sống và mất ở đảo Hawaii Hoa kỳ năm 2001, thọ 102 tuổi.
Một vài nét về công việc thu thập tài liệu công phu nghiêm chỉnh trên đây của 2 vợ chồng tác giả JUNG và JON để thấy cuốn sách về Mao là cuốn tiểu sử đáng tin cậy, với hàng ngh́n nhân chứng sống, đầy ắp sự kiện cụ thể sinh động, ''nói có sách, mách có chứng'' dựa vào toàn là sự thật khách quan được chứng minh chặt chẽ.
Các chế độ cộng sản hiện thực đều sống sau những bức màn sắt, đầy che giấu và lừa dối, nhờ che giấu và lừa dối. Do đó những điều được biết cho đến nay về Mao chỉ là những điều bộ máy cai trị của đảng Cộng sản muốn tô vẽ cho người ta tin rằng đó là Mao, là Mao thật.
Qua cuốn sách này, một h́nh ảnh khác, khác hẳn, hoàn toàn khác về Mao được tŕnh bày cặn kẽ, như một luận án khoa học lịch sử mới mẻ về Mao, không có nhiều nhận định và phê phán, ư hẳn các tác giả JUNG và JON muốn dành phần kết luận về nhân vật lịch sử này cho bạn đọc.
Để bạn đọc có khái niệm rơ hơn về cuốn sách đồ số này, xin thông tin thêm vài nét: cuốn sách chia ra làm 6 phần và 58 chương. Phần phụ lục 163 trang, lại c̣n 32 trang ảnh với 78 bức ảnh, trong đó có nhiều ảnh độc đáo, quư hiếm.
Sau bài mở đầu khái quát này, sẽ lần lượt giới thiệu với bạn đọc hơn một chục chủ đề từ Những điều chưa được biết về Mao; từ Mao trong cuộc Vạn lư Trường chinh đến Mao ở căn cứ Diên An; từ Mao trong quan hệ với Staline đến Mao trong quan hệ với Quốc Dân Đảng Trung quốc, và Mao trong quan hệ với Hoa kỳ và phương Tây; từ Mao trong sự biến Tây An đến Mao trong cuộc chiến tranh Triều Tiên; từ Mao trong cuộc chuyển bại thành thắng và Nam Hạ đến Mao trong Bước nhảy vọt và Mao trong cuộc Cách mạng văn hoá vô sản; từ Mao trong quan hệ gia đ́nh đến Mao trong những ngày hấp hối; và cuối cùng là h́nh ảnh khái quát của Mao qua cuốn sách.
V́ sách quá dày - 844 trang - nên chúng tôi tóm tắt, rút gọn, sắp xếp lại thành hơn 10 chủ đề trên, tập trung vào những chuyện chưa được biết, vừa bổ ích vừa ly kỳ, nhằm phục vụ bạn đọc một cách gọn gàng, thiết thực. Tôi đọc một mạch cuốn sách hấp dẫn này, rồi trở lại đọc chậm có ghi chép và suy nghĩ. Đúng là cuốn sách quốc tế của năm nay, một công tŕnh đồ sộ, công phu, giá trị cao. Bản tiếng Tây Ban Nha, Đức, Ư, Nhật bản, Nga ... đang lần lượt ra mắt.
Cuốn sách đang được dân Đài Loan nhiệt t́nh tiếp đón, nhưng bị cấm cửa triệt để ở Trung quốc; tất nhiên ở Việt nam nữa.
Một trùng hợp lư thú: bức ảnh to tướng của Mao ở Thiên An Môn vừa bị một thanh niên ném lên một gói sơn.
Các nhà dân chủ Trung quốc đối lập với chế độ độc đảng hiện hành do Mao dựng lên đang khẩn trương đưa nội dung cuốn sách này vào trong nước bằng nhiều đường, đón đầu 2 sự kiện hệ trọng trước mắt : Đại hội lần thứ 17 Đảng Cộng sản Trung quốc dự định vào tháng 10 năm 2007 này và Thế vận hội Ôlympic - Bắc Kinh sẽ khai mạc ngày 8 tháng 8 năm 2008.
Đưa sự thật vào cuộc sống xă hội là vũ khí mầu nhiệm hàng đầu đột phá vào dinh lũy tư tưởng độc đoán, độc đảng, phi dân chủ, chà đạp các quyền tự do của nhân dân, mở ra con đường thênh thang của tự do, phát triển và hội nhập.
Paris 5-10-2007
Bùi Tín
(nguồn bài: Thông luận)
adams
03-12-2011, 01:10 PM
II- Mao lập Hồng quân, dựng căn cứ đỏ
1.- Cuốn sách đồ sộ của Jung Chang và Jon Halliday hơn 800 trang nêu bật một sự thật ít người biết rơ là nước Nga từ xưa, Liên Xô sau này, đảng cộng sản Liên Xô, Quốc tế Cộng sản, Pḥng thông tin Quốc tế (Kominform) và đích thân Staline đă tác động trực tiếp và sâu đậm đến sự h́nh thành, mỗi bước đi của đảng Cộng sản Trung quốc, đến sự xuất hiện và ngày càng lên vị trí cao nhất của nhân vật Mao Trạch Đông.
Cuốn sách chứng minh rằng Mao trải qua nhiều lần lên voi xuống ngựa, bị hạ thấp, bị loại ra ngoài cơ quan lănh đạo v́ cuộc đấu tranh nội bộ khốc liệt th́ mỗi lần lâm nguy như thế đều được Staline cứu thoát.
Chính Staline bằng quyền lực áp đặt tuyệt đối trong phong trào cộng sản quốc tế đă đích thân lựa chọn Mao, cứu vớt Mao, theo tiêu chuẩn riêng của bản thân Staline là : trung thành với bản thân ḿnh, có ư chí áp đặt quyền lực bằng mọi thủ đoạn thâm độc và tàn bạo nhất, có gan thanh trừng nội bộ thẳng tay những đồng chí thân thiết nhất khi cần, không tính toán khi hy sinh sinh mạng của dân thường và quân lính nhằm đạt mục đích. Những tiêu chuẩn trên không nói ra, những biểu hiện rơ trong ư nghĩ và hành động giống hệt nhau của Staline và của Mao.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Mao-me-1.jpg
Mao (phải) cùng hai người em Trạch Dân (thứ hai bên trái) và Trạch Đàm (trái) bên mẹ không lâu trước khi bà mất
Mao chỉ ra nước ngoài duy nhất là Liên Xô, đích thân dự lễ sinh nhật lần thứ 70 của Xít ở Moscow ngày 21-12-1949 và người ta chỉ thấy được Mao khóc một lần duy nhất, là tại tang lễ Staline tại quảng trường Thiên An Môn tháng 2 năm 1953.
2-. Mao sinh năm 1893. Cách mạng Tân Hợi diễn ra năm 1911 lật đổ đế chế Măn Châu và ngày 1-1-1912 nước Cộng hoà Trung hoa được thành lập. Các quyền tự do được ban bố. Tôn Dật Tiên làm Tổng thống lâm thời rồi bị tướng Viên Thế Khải cướp quyền thay thế. Viên chết năm 1916, các quân phiệt địa phương nổi dậy cát cứ khắp nơi, làm cho chính phủ Bắc Kinh rất yếu. Tôn Dật Tiên về Quảng Châu lập căn cứ và công khai kêu gọi Liên Xô giúp đỡ để thống nhất đất nước bằng vũ trang. Quốc Dân Đảng do Tôn Dật Tiên sáng lập năm 1912 gắn bó với Liên Xô từ đó.
Ở Moscow, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười 1917, Lénine lập ra tổ chức Quốc tế Cộng sản Komintern năm 1919 để bành trướng chủ nghĩa CS.
Komintern chú ư đầu tiên đến nước láng giềng lớn Trung Quốc và năm 1920 cử ngay nhóm cán bộ quốc tế do Grigori Voitinsky và Maring (người Hà lan) sang Thượng hải nhằm thành lập đảng CS Trung quốc.
Liên Xô lợi dụng cuộc hợp tác Quốc - Cộng chống chính phủ quân phiệt Bắc Kinh do chính Tôn Trung Sơn đề xướng để đưa đông đảo đảng viên CS vào nằm vùng trong Quốc Dân Đảng, đến mức tại đại hội 2 Quốc Dân Đảng tháng 1-1926, trong 256 đại biểu có đến 1 phần 3 là cộng sản, trong khi số đảng viên CS chỉ có chừng 10 ngàn so với vài trăm ngàn đảng viên Quốc dân đảng. Đảng Cộng sản trung quốc c̣n được Liên Xô giúp cho hàng loạt cán bộ cộng sản và có cảm t́nh với cộng sản trà trộn lâu dài trong các tổ chức t́nh báo, quân báo, phản gián, tham mưu và chỉ huy của Quốc dân đảng. Một số bám trụ lâu dài cho đến tận khi Tưởng Giới Thạch cùng ba quân bỏ chạy ra Đài Loan năm 1949.
3-. Tưởng Giới Thạch sinh năm 1887, từng học quân sự ở Nhật bản, năm 1923 khi làm tổng tham mưu trưởng quân đội QDĐ đă sang quan sát nghiên cứu 3 tháng ở Liên Xô. Liên Xô tận lực chiều chuộng, tranh thủ, nhưng Tưởng không cắn câu v́ rất phản cảm với sự phân chia giai cấp đối kháng, cổ súy đấu tranh giai cấp tàn bạo và cảnh thanh trừng bừa băi của Lénine và Staline.
Tưởng vẫn giấu kín tư tưởng chống Liên xô và chống cộng, giữ quan hệ thân mật bên ngoài với tướng Borodine cố vấn Liên Xô cao nhất, cho đến khi Borodine dự định cùng phe Cộng sản ra tay bắt Tưởng th́ Tưởng cảm thấy động, liền hành động trước; ngày 12-4-1927 đặt cộng sản ra ngoài ṿng pháp luật, truy bắt cộng sản khắp nơi, bắn xả vào biểu t́nh quần chúng ủng hộ cộng sản ở Thượng Hải.
Có thời Mao có những quan hệ gần gũi đặc biệt với tướng Uông Tinh Vệ của Quốc dân đảng ở Vũ Hán khi Uông có những quan hệ thân hữu với đảng Cộng sản. Khi Tưởng chuyển sang lập trường diệt Cộng, có lúc Mao phân vân, do dự, nửa muốn theo Tưởng và Uông, nửa muốn theo Cộng sản. Cho đến khi thấy tên ḿnh trong danh sách bị truy nă, Mao giật ḿnh quyết định bỏ trốn, đi theo con đường cộng sản đầy mạo hiểm, và trên con đường ấy Mao quyết giữ an toàn cho bản thân, và phương sách an toàn nhất là ngoi dần lên những đỉnh cao quyền lực trong đảng Cộng sản.
4-. Sau cuộc trở mặt diệt Cộng của Tưởng, tháng 4-1927 Staline quyết dịnh ngay việc thành lập hồng quân và căn cứ đỏ ở Trung Quốc, cử ngay Beso Lominadze phái viên thân cận (cũng quê Gioócgia) và Jan Berzine cục trưởng cục t́nh báo quân sự GRU sang Trung quốc cạnh cơ quan trung ương đảng cộng sản Trung quốc ở Thượng Hải.
Ngày 7-8-1927 trong cuộc họp trung ương do Lominadze điều khiển, Mao phát biểu câu trứ danh: ''chính quyền từ đầu ngọn súng'', rắp tâm thu về cho riêng ḿnh cả quyền cầm đầu đảng và quyền cầm đầu quân đội.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/MAo-CHuDuc.jpg
Ngày 7/11/1931, Nhà nước đỏ lập ra tại căn cứ Thuỵ Kim Mao (thứ nh́ bên phải) làm chủ tịch, Chu Đức (thứ ba từ trái)
làm tổng tư lệnh
Mao liền dẫn một nhóm hơn 1 ngh́n quân thu nhặt từ một số nhóm quân Tưởng bỏ ngũ và dân quân các thôn xă mở rộng căn cứ phía Tây Hồ Nam và Giang Tây, đi vào vùng có những nhóm thổ phỉ và quân phiệt cát cứ; quân của Mao thắng vài trận nhỏ nhưng tiêm nhiễm chất thổ phỉ, cướp của cải lương thực, giết người, bị dân oán ghét và chống lại.Chu Ân Lai lúc ấy là đại diện Trung ương ở Thượng Hải cho phái viên về thẩm tra, quyết định cảnh cáo, và ngày 31-12-1927 khai trừ Mao ra khỏi đảng lúc Mao đang là uỷ viên dự khuyết bộ chính trị. Quyết định này đến đúng vào lúc cả tỉnh uỷ Hồ Nam bị bắt, nên không được thi hành. Mao vẫn chỉ huy đơn vị trên cương vị sư trưởng.
Tháng 4-1928 một sự kiện quan trọng diễn ra. Chu Đức chỉ huy mấy ngh́n quân sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Xương thất bại, kéo về căn cứ đỏ. Chu Đức sinh năm 1887, lúc ấy 41 tuổi, từng học quân sự ở Đức và Liên Xô, theo quân đội Quốc dân đảng, cấp lữ đoàn trưởng, nay gặp quân của Mao.
Mao có hơn 1 ngàn quân, Chu có hơn 4 ngàn; Mao tổ chức linh đ́nh lễ hội nhập 2 đoàn quân, báo cáo tin mừng về cuộc ''hội sư '' này về trung ương ở Thượng Hải, và ngày 2-5 1928 đề nghị Chu Đức là tổng chỉ huy, c̣n Mao là người cầm đầu đảng bộ, và xin được Trung ương chuẩn y.
Thật may cho Mao, đúng lúc ấy Đại hội VI đảng CS Trung quốc đang họp rất bí mật ở Moscow trong tháng 6 và tháng 7 -1928. Cù Thu Bạch làm tổng bí thư từ tháng 8-1927 sau khi Trần Độc Tú bị loại, với tội là theo xu hướng ''trôtkyst'', thật ra là v́ không tán thành để đảng CS Liên Xô và Staline khống chế quá sâu. Mao không có mặt tại Đại hội VI; Chu Ân Lai là nhân vật nổi nhất đọc cả 3 báo cáo chính. Chu sinh năm 1898, từ năm 19 tuổi sang Nhật học rồi sang Pháp vào đảng CS Pháp năm 1921, sau đó Chu sang Nga, được Staline ưa chuộng và năm 1924 được cử về Trung quốc làm Cục trưởng chính trị trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng châu, dưới quyền tướng Borodine. Chu được Quốc tế Cộng sản giao trách nhiệm chính là xây dựng Hồng quân và tổ chức cơ quan t́nh báo quân sự. Chu gặp Staline nhiều lần để chuẩn bị Đại hội VI, họp ở ngoại ô Moscow gồm gần 1 trăm đại biểu từ Trung quốc sang, được Liên Xô chi phí tiền di chuyển ăn ở và tham quan.
Tại đại hội VI Chu báo cáo rơ là Mao vừa để quân lính của ḿnh có những hành động thổ phỉ, nhưng Staline vẫn cho qua, công khai tín nhiệm Mao, cho rằng Mao đang có quân và có căn cứ, đă hội sư với quân của Chu Đức, hơn nữa Mao bắt đầu gây được thanh thế trong nước và cả ở nước ngoài. Tuy kém kỷ luật nhưng Mao rất coi trọng sự chỉ đạo của Staline. Sau đại hội VI Chu Ân Lai trở về Thượng Hải, quay về ủng hộ và đề cao Mao v́ hiểu rơ thái độ của Staline tín nhiệm Mao ra sao và mặt khác Chu cũng luôn tỏ ra không có tham vọng làm lănh tụ số 1, chỉ muốn ở cương vị quân sư quạt mo, hiến mưu tính kế, tổ chức thực hiện mà thôi.
5-. Sự kiện lớn tiếp theo là đội quân ''Mao-Chu'' (Mao với Chu Đức) tháng 8-1928 lại thu hút thêm đội quân của Bành Đức Hoài.
Bành sinh năm 1898 cũng ở Hồ Nam, nghèo khổ từ nhỏ, người to lớn, vào quân đội năm 1916, trở thành sỹ quan, bí mật vào đảng CS, tháng 6 -1928 Bành dắt 800 quân của trung đoàn ḿnh nổi dậy đi lập căn cứ; quân của Bành có kỷ luật, thiện chiến, phát triển nhanh, lên đến 15 ngàn sau hơn một năm; Bành tiến quân đánh chiếm Trường Sa tháng 7 năm 1929. Sau khi hợp nhất Mao xếp đặt cho Bành chức phó tổng chỉ huy quân sự dưới quyền tổng chỉ huy của Chu Đức. Sau đó Mao được khôi phục chức uỷ viên dự khuyết bộ chính trị.
6-. Từ tháng 12-1930, Tưởng tập trung quân tiến hành càn quét lớn các khu đỏ. Chiến lược của Mao là dử sâu quân Tưởng vào vùng căn cứ hiểm trở rồi phản kích. Mao được sự yểm trợ rất hiệu quả của màng lưới t́nh báo đông đảo của cơ quân quân báo GRU của Liên xô, gồm hơn một trăm t́nh báo viên chất lượng khá do Liên xô trả lương cao, nằm sâu trong các sở chỉ huy tối cao, bộ tổng tham mưu, các quân chủng, quân đoàn, sư đoàn của Tưởng. Họ có phương tiện truyền tin hiện đại. Các cuộc càn quét lớn đều được báo trước, có khi chính xác cụ thể đến ngày giờ và lực lượng, địa điểm từng mũi tiến quân. Tiêu biểu là Richard Sorge hoạt động ở Thượng Hải, đă thâm nhập sâu vào hàng ngũ các chuyên gia quân sự Đức được Hitler cử sang giúp Tưởng. Chính Sorge sau này đă báo cáo với Staline rằng chiến tranh thế giới sẽ nổ ra ởchâu Âu trước, Nhật không có ư định tiến công Liên xô vào thời điểm ấy.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/peng.jpg
Bành Đức Hoài (trái) tại mặt trận
Cuối năm 1930, 4 vạn quân của Mao phục kích 9 ngàn quân Tưởng, bắt nhiều tù binh và thu nhiều vũ khí. Tháng 4-1931, cuộc càn quét lớn thứ 2 của Tưởng cũng thất bại nặng. Đến tháng 7-1931 Tưởng trực tiếp chỉ huy 30 vạn quân, gấp 10 quân đối phương, trụ lại vùng càn quét, đẩy quân của Mao ở vùng Giang Tây vào t́nh trạng nguy khốn. Mao gặp may lớn, chiều 18-9-1931 Nhật cho quân mở cuộc tiến công vào Măn Châu, mở đầu cuộc chiến tranh ở Thái B́nh Dương. Tư lệnh vùng Măn Châu Trương Học Lương không chống cự. Quân Nhật chiếm thủ phủ Thẩm Dương và nhiều thị trấn. Ngày 20-9 Tưởng vội trở về Nam Kinh. Tưởng không tuyên chiến với Nhật, chỉ yêu cầu Hội Quốc Liên can thiệp, cho rằng quân Nhật quá mạnh không chống nổi, cứ để quân Nhật tiến, Trung quốc bao la hiểm trở; với thời gian sẽ khẩn trương hiện đại hoá quân đội, tằng cường kinh tế rồi sẽ phản công. Tưởng chủ trương thống nhất dân tộc, ngừng tấn công quân cộng sản, rút quân khỏi vùng Giang Tây.
Mao từ chối đề nghị thống nhất chống Nhật của Tưởng, c̣n tận lực mở rộng thanh thế. Ngày 7-11-1931, ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga lần thứ 14 Chính phủ đỏ của Nhà nước đỏ được chính thức thành lập, bao vùng những vùng rộng lớn thuộc Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy và Triết Giang, rộng 150 ngàn kilômet vuông với 10 triệu dân, thủ đô là Thụy Kim. Mao được cử là Chủ tịch chính phủ kiêm luôn chức thủ tướng (chủ tịch uỷ ban hành chính). Danh nghĩa ''Mao Tru Xi '' (Mao Chủ tịch) trở thành quen thuộc măi măi về sau. Dấu ấn Liên Xô trên đất Trung quốc c̣n nhiều nữa, như các vùng đỏ Giang Tô, Phúc Kiến được gọi là ''vùng xô-viết'', cuộc khởi nghĩa Quảng châu cũng lập nên ''Công xă Quảng châu'' .
Đến khi ấy Moscow vẫn không tin hẳn ở Mao. Chỉ huy quân sự vào tay Chu Đức được huấn luyện ở Liên xô; số 1 của đảng sau khi Cù Thu Bạch bị mất chức nay về tay Chu Ân Lai tuy Chu không mặn mà với chức này, nhưng được Staline tin cậy. Mao chỉ có quyền hành trong vùng căn cứ đỏ.
Ở Thụy Kim và trong cả vùng căn cứ đỏ rộng lớn, Mao thực hiện một chính sách chuyên chính gắt gao theo kểu g̣ ép cưỡng bức. Dân chúng là 4 nguồn Mao khai thác triệt để : tiền bạc qua lạc quyên, đóng thuế, lương thực qua trưng thu, nhân lực qua nhân công làm đường, đập, đê, và tuyển quân vào Hồng quân, tự vệ. Mao cử em ḿnh là Mao Trạch Đàm làm thủ trưởng Ngân hàng của Khu đỏ.
Mao thực hiện quản lư vùng đỏ theo mô h́nh Liên Xô : họp hành liên miên, các tổ chức thanh niên, phụ nữ, học sinh, công đoàn bị nhồi sọ, lao động nặng nhọc, hưởng thụ bất công, thanh trừng liên miên, dân phát khiếp. Do dân chống đối nên khủng bố đỏ diễn ra rộng khắp suốt trong năm 1934.
Từ 1931 đến 1936 số dân giảm đến 20%, và quanh vùng Thụy Kim số dân bị thanh trừng, giết hại, quản chế, cả gia đ́nh bị thất tán, dân gian chết đói hàng lọat, lên đến 70 vạn theo điều tra mới đây.
Ḷng dân khiếp đảm, đến mức năm 1949 cộng sản toàn thắng trên lục địa, Trung ương Đảng cộng sản cử người về xây dựng lại cơ sở, có phái viên Liên xô đi cùng, cả vùng đỏ cũ trong tỉnh Giang tây hầu như không có một chi bộ hay một đảng viên cộng sản nào ! Người dân cố nhớ kể lại những chuyện 13, 14 năm trước của thời '' Xô viết Giang tô '' và vùng căn cứ đỏ Thụy Kim'' vẫn c̣n kinh hoàng và khiếp sợ.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday
adams
03-12-2011, 01:12 PM
III - Mao trong cuộc Vạn lư Trường Chinh
1-. Tháng 5-1932, Tưởng mở cuộc càn quét lớn thứ tư với nửa triệu quân, vào lúc nội bộ vùng đỏ đang rắc rối to bắt nguồn từ tham vọng lớn của Mao gây ra chia rẽ nội bộ. Mao thường lấn lướt Chu Đức và Bành Đức Hoài, lôi kéo Lâm Bưu, lại c̣n ngang bướng với Trung ương ở Thượng Hải. Bành ngay thẳng bao nhiêu th́ Lâm lắm tính toán riêng tư và thấp hèn bấy nhiêu. Lâm thành kẻ thân tín của Mao. Mao c̣n cho tay chân thu lượm nhiều của cải quư hiếm cất giấu trong dân làm thành của riêng, được bộ hạ trong đó có em ruột là Mao Trạch Đàm chuyển vào các kho mật trong hang đá. Nhiều đảng viên ngay thẳng tỏ ra không hài ḷng, dân thường kêu ca, thế là Mao mở ra những cuộc thanh trừng có tính khủng bố. Ai cũng có thể bị kết tội là ''A.B.'' (anti Bolchevik) theo kiểu Liên Xô. Trong tra tấn, Mao để mặc, gần như là khuyến khích bộ hạ dùng các kiểu cực h́nh treo người, cắt tai, cắt gân gót chân. Sau khi thẩm tra t́nh h́nh, Chu Ân Lai buộc phải bào cáo cho Quốc tế CS và Staline là Mao đă trở thành 100% là ''phần tử cơ hội hữu khuynh'', ''đi ngược lại những chỉ thị của Quốc tế Cộng sản'', mặt khác Chu lại sợ Mao bất măn có những hành động phá phách tệ hại hơn, Chu đành phong cho Mao cái chức ''tổng chính uỷ '' Hồng quân, như Mao đ̣i hỏi.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Mao-hop-1.jpg
Nội các khu Đỏ họp, có Mao chủ tịch (đứng giữa) và Chu Đức (ngồi giữa)
Đầu tháng 10-1932, Chu triệu tập và chủ toạ cuộc họp 8 người lănh đạo ở Ninh Đô. Mao bị lên án là không tôn trọng lănh đạo, thiếu ư thức tổ chức. Cuộc họp quyết định Mao thôi không được dính ǵ với Hồng quân, trở về công việc điều hành khu đỏ. Trong cuộc họp Chu Ân Lai vẫn cứ tỏ ra do dự không dám có biện pháp mạnh với Mao. Thế rồi lại Staline cứu Mao, quyết định coi Mao là người lănh đạo tiêu biểu, cho rằng dù có khuyết điểm và sai lầm, Mao vẫn cần thiết cho uy danh Hồng quân và Khu đỏ.
Cuộc càn lớn thứ tư của Tưởng vẫn thất bại nặng. Tháng 12-1932 Liên Xô khôi phục quan hệ ngoại giao với Tưởng, có điều kiện gửi thêm nhiều t́nh báo viên dưới danh nghĩa nhà ngoại giao, nhà báo, và Trung ương ở Thượng Hải lại nhận được những tin tức quư về mọi kế hoạch cụ thể hành quân của quân Tưởng. Tưởng bị thất bại thêm vào cuối tháng 2- 1933 khi Nhật tuyên bố thành lập Nhà nước Măn Châu Quốc.
2-. Tháng 9-1933, Tưởng lại huy động nửa triệu quân tiến công thẳng vào khu vực Thuỵ Kim ở phía Nam tỉnh Giang Tây, được coi là thủ đô của vùng đỏ, sau khi Tưởng đạt được một cuộc ngừng bắn với Nhật. Staline liền cử chuyên gia quân sự người Đức Manfred Stern (lấy tên là tướng Kléber) sang Thượng Hải bên cạnh Trung ương của đảng CS Trung quốc. Một sĩ quan Đức là Otto Braun được cử thẳng đến Thuỵ Kim. Braun lấy bí danh là ''Lư Đức'', được cấp một bà vợ Tàu, sinh một cậu con trai kháu khỉnh nhưng da vàng mũi thấp, Mao nói đùa rằng: ''trong trường hợp này, chất thượng đẳng của chủng tộc German không được chứng minh''.
T́nh h́nh Hồng quân trở nên bi đát v́ quân Tưởng quá đông lại trang bị mạnh, hiện đại, súng máy và pháo binh rất nhiều. Hồng quân tính chuyện rút lui. Ư định là di chuyển xa lên phía Tây Bắc, nếu có thể lên tận vùng giáp giới với Liên Xô. Tổng số người tham gia khi khởi hành vào tháng 10-1934 là 80.000 người, chia làm 3 bộ phận: 2 đạo quân do Lâm Bưu và Bành Đức Hoài chỉ huy, Bộ tham mưu cùng cơ quan trung ương gồm 5 ngàn người đi giữa.
Đă có nhiều tư liệu, sách báo, tranh ảnh, hồi kư về cuộc Vạn lư trường chinh. Nay Jung và Jon cho độc giả một cách nh́n mới mẻ, đôi khi lạ lùng, nhưng lại có độ chính xác cao. V́ hai tác giả đă trở lại con đường vạn dặm ấy, t́m hằng trăm nhân chứng c̣n sống, một số trên dưới 90 tuổi, khui sâu các hồ sơ chưa từng biết ở Bắc Kinh và Moscow. V́ quá nhiều chi tiết, chỉ xin lược qua một số điều lư thú nhất dưới đây:
3-. Điều ít ai biết là chính Tưởng đă để cho Hồng quân rời đi xa vào nội địa, với tính toán rằng ''dùng'' Hồng quân để tiễu phỉ đang hoành hành cát cứ khắp vùng rừng núi phía sâu, theo quan điểm ''thượng sơn quan hổ đấu '' (lên núi xem hổ đánh nhau), để rồi sau đó sẽ cho quân vào khi cà 2 đối tượng ấy đă suy yếu và kiệt quệ. Cho nên Tưởng theo dơi rất sát cuộc di chuyển lớn, máy bay quan sát bám theo nhưng thường là không ném bom, không bắn phá. Chỉ khi nào đội quân di chuyển sai hướng ư muốn của ḿnh th́ Tưởng mới t́m cách can thiệp.
Hơn nữa Tưởng để cho Hồng quân gần như tự do di chuyển lên Tây Bắc với ư nghĩ rằng địa h́nh, thời tiết, thiếu thốn, gian khổ sẽ làm kiệt quệ, sứt mẻ quy mô lớn mà không cần đánh phá làm ǵ cho mất công, lại là món quà cho Liên Xô về ''thiện chí'' của ḿnh - v́ Hồng quân Trung hoa được coi là con đẻ của Liên Xô cộng sản, trong lúc Tưởng rất cần đến sự ủng hộ của Liên Xô để chống Nhật.
Cho nên nói Hồng quân đánh hàng trăm trận để mở đường trường chinh là thổi phồng quá đáng. Sự thật là gần như chỉ có những trận đánh nhau với thổ phỉ và vài trận nhỏ với bọn quân phiệt cát cứ địa phương.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Mao-TruongQuocDao.jpg
Trương Quốc Đào (trái) và Mao
4-. Đầu năm 1935 đến tỉnh Quư Châu, Hồng quân chỉ c̣n 40 ngàn người, hao hụt một nửa, chủ yếu là do kiệt sức, ốm đau, bỏ ngũ và cả thanh trừng nội bộ. Mao và số lănh đạo nằm trên vơng, đọc sách, nghiền ngẫm kỹ mưu mẹo mới. Người số 1 lúc ấy là Bác Cổ (Tần Bang Hiến) từng học ở Moscow và thường trực đảng ở Thượng Hải, là mục tiêu hạ bệ của Mao. Mao cố tranh thủ Vương Gia Tường, c̣n có bí danh là ''Giáo sư đỏ'' và Lạc Phủ (Trương Văn Thiên) thành bộ ba quyết làm một cuộc ''đảo chính'' trong lănh đạo. Họ đề ra việc làm báo cáo tổng kết về những thất bại nặng nề, vùng đỏ bị thu hẹp, Hồng quân bị tiêu hao, mất căn cứ, để gửi cho Quốc tế CS và chấn chỉnh lănh đạo. Họ rắp tâm đổ tội cho Bác Cổ tổng bí thư đang quyền thay Cù Thu Bạch bị loại v́ ốm (sau đó Cù ở lại Thuỵ Kim bị Quốc dân đảng bắt và giết); nhóm ba người c̣n đổ lỗi cho Chu Ân Lai người đứng đầu về quân sự, cũng như cho Otto Braun là cố vấn quân sự. Ngày 17-1-1935 dừng chân ở thị trấn Tuân Nghĩa (Quư Châu) cuộc họp Bộ chính trị mở rộng gồm 20 người diễn ra trong không khí nội bộ căng thẳng sát phạt nhau, dựa theo tinh thần tự phê b́nh và phê b́nh nghiêm ngặt. Qua hội nghị Tuân Nghĩa, Lạc Phủ (Trương Văn Thiên) trở nên nhân vật số 1, đứng đầu đảng thay Bác Cổ, Mao được là uỷ viên Ban Bí thư, c̣n nài thêm được chức ''phó cho đồng chí Chu Ân Lai trong lănh đạo công tác quân sự''. Vương Gia Tường được vào Bộ chính trị. Mao tuy vẫn ở vị trí thấp nhưng sẽ dễ dàng chi phối Lạc Phủ. Chu Ân Lai tuy gượng lại được ở nguyên chức nhưng càng trở nên e ngại với Mao, một kẻ tỏ ra lắm tham vọng và nhiều mưu đồ thâm hiểm.
5-. Trên đường hành quân bỗng xuất hiện Trương Quốc Đào. Quốc Đào từng chủ toạ Đại Hội thứ nhất của Đảng CS Trung quốc. Lúc này Quốc Đào chỉ huy một đạo Hồng quân lớn ở phía Bắc tỉnh Tứ Xuyên. Đào là uỷ viên Bộ chính trị, uỷ viên Ban bí thư từ khi Lạc Phủ chưa vào đảng, lại c̣n là uỷ viên ban chấp hành Quốc tế CS sau khi ở khá lâu ở Nga và gặp Staline nhiều lần. Quốc Đào nhận trách nhiệm lập căn cứ đỏ trên đất 3 tỉnh Hồ Nam, Hà Bắc và An Huy từ năm 1934 rộng đến 40 ngàn kilômet vuông, có 3 triệu rưỡi dân và 45 ngàn quân. Nay quân của Trương Quốc Đào lên đến 80 ngàn, được trang bị và huấn luyện tốt, đang t́m cách liên lạc và hợp nhất với Hồng quân trung ương trên c̣n đường di chuyển lên Tây Bắc.
Mao không mảy may vui mừng, c̣n lo sợ sự hợp nhất với Quốc Đào v́ đội quân này quá đông, mạnh, Đào có chức vụ cao, lại nhiều tham vọng và mưu mô. Thế là Mao tŕ hoăn cuộc hợp nhất, cho quân đi loanh quanh, có lúc quay hẳn lại phía sau để có thời gian bàn mưu với Lạc Phủ, Vương Gia Tường, cả với Chu Ân Lai và Bác Cổ, để ngăn chặn việc Quốc Đào đ̣i quyền lực. Cuộc hợp nhất diễn ta tẻ nhạt v́ Hồng quân trung ương kiệt quệ lê lết tiều tụy, mất tư thế, quân của Quốc Đào tuy cũng bị tổn thất nặng do bị Mao buộc phải hành quân qua những vùng hiểm trở sụt lở, quanh co, nay vẫn phải san sẻ cưu mang. Để xoa dịu, nhóm Lạc Phủ nhường cho Đào chức ''phó tổng chỉ huy quân sự '' nhưng Đào tỏ ra không hài ḷng.
6-. Sau khi đến căn cứ ở Ninh Hạ và Thiểm Tây, tháng 10-1936 Mao và Lạc Phủ chơi khăm cử quân của Quốc Đào hành quân sang sát vùng Ngoại Mông xa xăm, thọc qua pḥng tuyến quân Tưởng dày đặc nhằm mở liên lạc tiếp nhận viện trợ của Liên Xô; 21 ngàn 8 trăm quân bị đẩy vào t́nh cảnh nguy khốn, sa lầy, tiêu hao lớn. Moscow lại yêu cầu chuyển hướng hành quân sang phía Tân Cương với lộ tŕnh dài 1500 kilômet qua sa mạc và dân vũ trang theo đạo Hồi hung dữ chống cộng, có trận hơn 1 ngàn hồng quân bị bắt và bị tàn sát, cả chôn sống; tháng 4- 1937, tàn quân về được căn cứ chỉ c̣n chừng 400. Trương Quốc Đào cay đắng ôm hận, vừa bị Mao chơi cho một vố sạch túi, rời căn cứ Diên An, về Vũ Hán, tuyên bố rời đảng Cộng sản để sang hàng ngũ Quốc Dân Đảng. Về sau, Quốc Đào sang sống ở Đài Loan rồi sang Canada sống ở Toronto đến khi chết năm 1979, thọ 82 tuổi. Sau khi Quốc Đào rời khỏi đảng CS, 200 bộ hạ của Đào ở Diên An bị Mao thanh trừng bằng tàn sát thẳng tay.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/CauDaiDo.jpg
Cầu trên sông Đại Độ
6-. Mao từng kể cho nhà văn Edgar Snow tỉ mỉ về cuộc Trường Chinh, đặc biệt về trận đánh oanh liệt, rực lửa cháy suốt đêm, cũng rực lửa anh hùng là trận vượt qua cầu Đại Độ. Cầu Đại Độ là cầu treo bằng 13 xích sắt dài 101 mét lót ván, được xây dựng từ thế kỷ 18 trên con đường từ Thành Đô thủ phủ Tế Xuyên đi Lhasa thủ phủ Tibet (Tây Tạng). Sông Đại Độ nước lớn chảy xiết vào lúc tuyết tan từ Tibet đổ về. Theo Mao kể quân Tưởng bố trí bên kia sông có nhiều ổ súng máy và pháo, quân Mao vẫn vượt qua bất chấp hy sinh, bất chấp lửa cháy rợp trời, ḅ trên xích sắt nung đỏ !), các chiến sĩ rơi xuống sông nối tiếp vẫn tiến lên cắm cờ chiến thắng. Đây là trận tiêu biểu của cuộc Trường chinh !
Jung và Jon cho chúng ta biết: đó là từ tưởng tượng của Mao. Không có một trận nào ở cầu Đại Độ cả. Quân Tưởng bất động, ở cách cầu hơn 20 dặm. Hồng quân mượn dân ở quanh đó một số cánh cửa ván giường để đặt trên xích sắt rồi đi qua. Năm 1997 Jung đă đến tận nơi hỏi chuyện bà già 93 tuổi, theo đạo Công giáo, năm 1935 là cô bán đậu phụ ở ngay đầu cầu. Bà cụ kể lại không hề có nổ súng đánh nhau. Có một số hồng quân c̣n vào nghỉ chân trong nhà bà. Hiện có một nhà bảo tàng ở gần cầu; viên cán bộ giữ bảo tàng cũng phải cải chính là cầu không hề cháy.
Năm 1982 khi gặp Zbigniw Brzezinski, được hỏi về chiến công cầu Đại Độ, Đặng Tiểu B́nh thú nhận là: việc qua cầu rất dễ dàng; quanh đó chỉ có lính bọn quân phiệt địa phương, súng ống lạc hậu. Đó không có ǵ là chiến công, nhưng phía chúng tôi cứ phóng lên để cổ vũ tinh thần quân lính.
7-. Một nét được Jung và Jon nêu bật là khác với lời tả của Edgar Snow trong cuốn sách ca ngợi Mao và cuộc trường chinh, Red Star over China («Sao đỏ trên nước Trung hoa») rằng trong cuộc hành quân hồng quân rất kỷ luật, thương yêu nhau, rất b́nh đẳng; nhưng thật ra Mao, Bác Cổ, Lạc Phủ, Chu Ân Lai, Vương Gia Tường... đều được nằm vơng có dân công và quân lính gánh đi. Riêng Mao th́ quanh năm nằm vơng, c̣n có người gồng gánh sách theo để Mao đọc kể cả những tiểu thuyết cổ. Mao thỉnh thoảng lắm mới xuống vơng cho thư giăn, chống gậy đi như ngao du ngắm cảnh. Chỉ có Chu Đức, Bành Đức Hoài và ít sĩ quan cấp cao khác là có chia sẻ gian khổ với quân lính. Có lúc 3, 4 vơng đi sát nhau để các ngài bàn chuyện chung, cả những âm mưu để liên kết và hại nhau. Ăn uống cũng một trời một vực. Hàng vạn quân ốm nặng, kiệt sức, dày dép rách nát, bỏ chết bên đường.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/longmarch.jpg
Trên đường vạn lư trường chinh
8-.Ngày 18-10-1935 cuộc hành quân có tên là ''Vạn lư Trường chinh'' kết thúc trên đất Thiểm Tây, số quân c̣n lại sau đúng một năm là gần 4.000 (khi xuất phát là 80 ngàn). Mao không mảy may tỏ ra buồn nản khi trong tay chỉ có một đội quân tiều tuỵ, suy nhược, không khí thế. Ngay sau khi lập một số căn cứ phía Tây tỉnh Thiểm Tây, nhiều nhóm vũ trang từ Hồ Bắc, Hà Nam, Tứ Xuyên... di chuyển đến hợp sư, nổi nhất là đoàn quân của Hạ Long có đến hàng vạn quân gia nhập Hồng quân từ tháng 10-1936. [Hạ Long sau này trở thành một trong 10 nguyên soái của Quân Giải phóng Nhân dân Trung quốc, rồi bị thất sủng, bị tra tấn rồi chết trong tù tháng 7-1969, chỉ v́ sau khi Liên Xô hạ Khrouchtchev tháng 9-1964, Brejnev và Bộ chính trị đảng cộng sản Liên Xô cũng muốn Trung quốc hạ bệ Mao và qua nguyên soái Malinopski bắn tin này cho Chu Ân Lai và Hạ Long khi 2 vị này sang Moscow dự lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga ngày 7-11-1964].
Điều an ủi lớn nhất đối với Mao là trên đường hành quân Mao đă giành lại được vị trí tuy c̣n thấp trong bộ máy lănh đạo, nhưng thoát khỏi nguy cơ bị Trương Quốc Đào đẩy xuống. Dọc đường, Lạc Phủ và Mao đă cử Trần Vân trong Ban bí thư sang Moscow nộp bản báo cáo về t́nh h́nh cho Quốc tế CS và Staline vào ngày 15-10-1935. Cuối tháng 10 báo Pravda (Sự Thật) đăng tin về cuộc Trường chinh với một bức ảnh Mao với chú thích : ''Nhà lănh đạo của nhân dân Trung Hoa''. Giữa tháng 11, một phái viên của Quôc tế CS đóng vai nhà buôn mặc áo lông cừu vượt sa mạc Gôbi mang theo mật mă học thuộc ḷng dùng cho liên lạc rađiô giữa Moscow và căn cứ của Mao. Theo yêu cầu khẩn cấp của Mao, Staline và Dimitrov gửi gấp sang cho Mao nhiều chuyến vũ khí và 550 ngàn đô la (giá trị hiện nay là gần 2 tỉ) do bà Tống Khánh Linh, vợ nhà cách mạng Tôn Trung Sơn, chị ruột Tống Mỹ Linh vợ của Tưởng Giới Thạch chuyển số tiền lớn này đến cho Mao v́ gia đ́nh lớn họ Tống có quan hệ rộng với giới tư bản và ngân hàng quốc tế ở Hồng Kông, Áo Môn, Thượng Hải, Luân Đôn, New York... Mao có thêm điều kiện để xây dựng lực lượng và mở rộng căn cứ đỏ. Sau khi toàn thắng, Mao đưa bà Tống Khánh Linh lên làm phó chủ tịch nước Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:14 PM
IV - Mao và cuộc sống ở Diên An
1-. Diên An, thủ đô đỏ của Mao suốt 12 năm từ 1937 đến 1949 là một thủ đô khác lạ, độc đáo của thế giới. Diên An là thị trấn khép kín, pḥng vệ nghiêm mật, rất ít người lạ trong nước và nước ngoài được lọt vào để tự do di chuyển và quan sát. Khách nước ngoài, chính khách, nhà ngoại giao, nhà báo quốc tế... vào Diên An được hướng dẫn chặt chẽ để chỉ thu nhận những ǵ mà Mao mong muốn, theo kiểu đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại.
Do đó cuốn sách của Jung và Jon cho chúng ta khá nhiều điều mới lạ, chân thực vè Diên An của Mao, đặc biệt là những nét dưới đây:
2-.Ngày 1-1-1937 khi Mao và Hồng quân cùng cơ quan lănh đạo của đảng CS kéo vào Diên An, nơi đây đă là một thị trấn khá phát triển, có nhiều cửa hàng buôn bán, có nhà thờ công giáo khá lớn, gần đó có mỏ dầu khí bắt đầu được thăm ḍ. Nhiều nhà thơ từng ca ngợi vẻ đẹp của vùng này với những đồi hoa 'pivoine' đỏ rực.
Được tin hồng quân đến, nhiều nhà buôn bán lớn nhỏ, các gia đ́nh có của bỏ đi, để lại hàng trăm ngôi nhà rộng răi. Quanh phố xá là những dăy nhà gạch xen nhà đất, cả những nhà khoét vào đồi đất mềm và hang đá ở phía xa.
3-. Mao chọn nơi ở vùng đồi Phượng hoàng phía Tây thoáng mát, quanh là các cơ quan bảo vệ và t́nh báo, mật vụ. Ngay sau đó một đường hầm được đào đắp để có thể an toàn thoát ra phía ngoài xa khi có động. Mao có đến 3 chỗ ở được sửa chữa kỹ, có ḷ sưởi, nhà tắm, pḥng làm việc đủ tiện nghi, Mao ở tuỳ thích theo mùa và công việc. Các nơi này rất kín đáo, cực kỳ cẩn mật, người thường không ai biết.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/LOngMarcgroute-1.jpg
Lộ tŕnh vạn lư trường chinh
4-. Trong cuộc trường chinh, Mao là người hiếm hoi mang được vợ đi theo, tên là Hạ Tử Trân, c̣n gọi là Quế Viên, vợ thứ 3 của Mao. Bà vợ đầu hơn Mao 4 tuổi do gia đ́nh cưới cho năm 1908, không hề có quan hệ ǵ theo Mao kể, chết sớm năm 1910. Vợ thứ hai là Dương Khai Tuệ, con gái thầy dạy học của Mao ở Trường Sa, cưới năm 1920, có với Mao 3 con trai Ngạn Anh, Ngạn Thanh và Ngạn Long, bà bị quân Quốc dân đảng bắt và bị bắn ngày 14-11-1930. Ngay sau đó Mao lấy Hạ Tử Trân, một đảng viên CS trẻ vào đảng khi 16 tuổi. Hà xinh đẹp, gia đ́nh buôn bán khá giá, có học, rất mắn, đẻ 6 con với Mao, hầu hết chết do suy dinh dưỡng trong hoàn cảnh gian nan, tuy Hạ thường được đi ngựa, được cáng trên đường hành quân. Tháng 10-1937 sau khi đến Diên An, Hà đang có mang, được sang Nga chữa bệnh, để lại ở Diên An con gái 2 tuổi có tên là Chiao Chiao. Sang đến Nga, Hạ sinh con trai, đặt tên Nga là Lyova, rất giống Mao, nhưng chỉ sống được 6 tháng, chết v́ sưng phổi.
5-. Trước khi Hạ Tử Trân đi Nga, Mao đă có t́nh ư với Giang Thanh một diễn viên có tiếng từ Thượng Hải vào khu đỏ v́ ưa nổi danh và có tính phiêu lưu. Mao từng có 3 vợ th́ Giang Thanh có đến 4 đời chồng trong cuộc đời phiêu lưu t́nh ái hiếm có. Mao mê Giang, quyết lấy làm vợ dù cho Lạc Phủ lúc ấy là nhân vật số 1 ngăn cản. Mao mua chuộc Khang Sinh, ''giáo sư đỏ'' Vương Gia Tường và uy hiếp Chu Ân Lai buộc phải tán đồng. Khang Sinh trùm t́nh báo là người đứng ra bảo lănh về tư cách và thái độ chính trị của Giang Thanh. Đám cưới ở Diên An, Mao không mời Lạc Phủ. Giang Thanh trở thành ''Bà lớn Mao'' ở thủ đô đỏ, sinh một con gái ở Diên An ngày 3-8-1940, tên là Mao Lư Nạp, thường gọi là Li Na. Mẹ và con gái sau này đều thành người hùng trong Cách mạng văn hoá.
6-. Trước khi gặp Giang Thanh (Jang Qing), Mao đă gặp Đinh Linh (Ding Ling) ở Diên An, cùng có quan hệ gần gũi đặc biệt, như nhà văn cao to đầy sức sống này kể lại khi về già. Hai người họa thơ với nhau, thích thú đùa vui về '' tam toà lục viện'' những cung tần mỹ nữ quanh Mao.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/DuongKhaiHuy.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/GuiYuan-vothuba.jpg
Dương Khai Tuệ, Hạ Tử Trân
Điều mới mẻ nữa là Jung và Jon kể khá rơ về quan hệ của Mao với các phụ nữ nước ngoài ở Diên An. Helen Snow vợ của nhà văn Edgar Snow được Mao cưng chiều đặc biệt sau khi cuốn Ngôi sao đỏ trên nước Trung hoa' có tiếng vang sâu rộng. Vợ chồng Edgar Snow phất to do bán rất chạy cuốn tiểu sử mới lạ ấy về Mao. Mao tự kể rồi Edgar Snow tán tụng thêm; Mao khôn khéo giấu kín như bưng mọi quan hệ gắn bó ḿnh và đảng cộng sản Trung quốc với Staline và Liên Xô, với Dimitrov và Quốc tế cộng sản; nêu bật chế độ trong sạch, b́nh đẳng, giản dị, che giấu thói quan liêu, phân chia đẳng cấp trong hưởng thụ ở Diên An, tuy Edgar Snow và vợ thừa biết rơ nhiều điều bê bối của Mao. Lily Wu một diễn viên Mỹ trẻ cuối năm 1937 đă đến Diên An để t́m hiểu một thế giới mới lạ. Do ảnh hưởng một phần của cô nghệ sĩ 26 tuổi này mà phong trào khiêu vũ ở Diên An sôi nổi một thời, có khi đều đặn mỗi tối thứ 7, với sự tham gia của Mao, trong tiếng nhạc phát ra từ một máy hát cũ. Rồi đến Agnès Smedley tự giới thiệu là nhà văn cánh tả Mỹ, có thiện cảm với phong trào cộng sản quốc tế, đến thăm Diên An. Quan hệ giữa Mao với Lily và Smedley có lúc buông thả đến mức Hạ Tử Trân vợ Mao nổi cơn ghen, chửi tục Mao là '' đồ con lợn, tối mắt với bọn gái tư sản đế quốc'', rồi xông vào túm tóc và tát Lily; với Smedley, Hạ cũng có lần chửi bới đánh tát nhưng cô này to lớn hơn đánh trả cho bị ngă quỵ. Mấy cận vệ của Mao trố mắt nh́n. Mao im lặng bỏ đi.
Sau khi cưới Giang Thanh, Mao viết thư ngắn báo cho Hạ Tử Trân đang ở Nga biết rằng ông cắt đứt quan hệ với cô. Hạ bị bệnh tâm thần từ đó; bệnh ngày càng nặng, năm 1943 phải vào bệnh viện, năm 1946 được ra viện và trở về Trung quốc. Bà không được phép đến Bắc Kinh. Đến năm 1959 theo lời kể lại của Jung và Jon, Mao giở tṛ ác độc thâm hiểm ''giết'' luôn bà vợ từng sát cánh ḿnh trong cuộc trường chinh. Lúc ấy Mao đến dự cuộc họp lớn ở Lư Sơn, gần Nam Xương, nơi Hạ Tử Trân đang sống một ḿnh. Mao được biết Hạ sức cực yếu, có lần ngất đi khi nghe tiếng Mao truyền đi trên đài phát thanh. Thế là Mao cử người đến gặp Hạ nói rằng có người quen muốn gặp. Ngày 7-7-1959 ở Lư Sơn, khi Hạ bất thần thấy Mao sừng sững lặng thinh trước mặt sau 22 năm xa cách, bà ngất lịm v́ u uất cay đắng. Mao bỏ đi không một lời an ủi, c̣n hẹn hăo là mai sẽ trở lại gặp. Từ đó Hạ phát điên đến mức không nhận ra con gái. Bà chết năm 1984 trong cảnh cô đơn kiệt sức, khi 75 tuổi.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Nhabenlungnui.jpg
Một căn nhà của Mao tựa vào vách núi…
7-. Nhà quay phim đầu tiên đến Diên An là Roman Karmen từ Moscow. Những cuốn phim phóng sự của Karmen giới thiệu khắp thế giới những cảnh đẹp, cuộc sống lành mạnh, b́nh đẳng, lạc quan ở Diên An với h́nh ảnh vị lănh đạo Mao Trạch Đông bệ vệ, sát quần chúng, có uy tín và tài năng. Trong cuốn phim, Mao cố t́nh làm ra vẻ quư trọng Staline, cầm trong tay ảnh Đại Nguyên Soái rồi trân trọng đặt trước mặt trên bàn làm việc. Điều này quả nhiên được Staline xem và tỏ ra hài ḷng. Tranh thủ tín nhiệm của Staline là ư định thường trực cao nhất của Mao, v́ Mao hiểu rơ quyền lực của Xít trong phong trào cộng sản quốc tế và trong chọn lựa người lănh đạo cao nhất ở Trung quốc có ư nghĩa quyết định đến mức nào.
8-. Thanh niên yêu nước có cảm t́nh với Cộng sản khắp Trung Hoa đổ về Diên An hàng nǵn, hàng vạn người. Nhà cửa phải sửa sang, mở rộng làm thêm để đón. Trường học, giảng đường nhiều thêm. Họ kéo đến nghiêm trang như người hồi giáo đến thánh đường La Mecque. Nhưng chỉ được vài năm đầu. Họ dần dần vỡ mộng. Một số trí thức sinh viên từ Bắc kinh, Thượng Hải, Nam kinh, Quảng châu trở về bắt đầu phàn nàn về cảnh bất công rơ rệt, làm không đi với nói, tự cảm thấy bị lừa dối. Họ kể chuyện bếp tiểu táo cho cán bộ cao, trung táo cho cán bộ cấp dưới, đại táo cho binh lính và thanh niên, học sinh. Nhiều kiểu áo quần, vải cũng khác nhau về chất lượng cho mỗi cấp. Nhà ở càng khác biệt. Thuốc men, chữa bệnh theo đẳng cấp. Có người được thuốc đặc biệt tốt, kẻ khác chỉ có thuốc lá, theo Đông y. Có người chỉ được nằm bệnh xá, người nằm bệnh viện, có cả bệnh viện riêng cho cán bộ và sĩ quan cấp cao.
Có sinh viên nói kháy: ở Diên An chỉ có ánh mặt trời và không khí là được hưởng b́nh đẳng như nhau.
9-. Thế rồi hàng loạt thanh niên vỡ mộng đ̣i trở về, đ̣i rời khỏi Diên An. Từ năm 1942, t́nh h́nh căng thẳng. Hầu như chỉ được đến không được đi. Thế rồi thanh trừng và khủng bố xảy ra ngày càng rộng. Diên An trở thành nhà tù lớn, trong đó các nhà tù nhỏ dựng lên không kịp. Có lúc có đến 3 ngàn tù nhân trong thủ đô đỏ, một chục nhà tù lớn và rải rác những nhà giam tạm.
Mao mở các cuộc chỉnh huấn, kiểm thảo, kiểm điểm,buộc mọi người phải viết đi viết lại những bản tự phê b́nh, khai báo mọi quan hệ xă hội. Các cuộc đấu tố, truy hỏi lẫn nhau, tự thú, hối cải, làm đi làm lại diễn ra không ngớt. Nhiều người phải tự bịa ra tội, tự tưởng tượng tội phản quốc, phản đảng, quan hệ phức tạp với người của Quốc dân đảng để cố tỏ ra vẻ thành khẩn, trung thành, để được yên. Tự sát xảy ra hàng ngày, từ thắt cổ, nuốt thuỷ tinh, nhảy xuống giếng...
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/JiangQing.jpg
”bà lớn” Giang Thanh (trái)
10-. Tiêu biểu cho cuộc thanh trừng ở Diên An là trường hợp của Vương Thực Vị (Wang Shi Wei). Jung và Jon kể: Vương là nhà văn trẻ có hoài băo, dấn thân cho lư tưởng. Sống vài tháng ở Diên An, anh vỡ mộng. Anh viết bài đăng trên Giải phóng nhật báo chỉ trích gay gắt chế độ đẳng cấp, thái độ độc đoán khinh quần chúng trong cuộc sống hàng ngày ở Diên An. Anh c̣n viết báo chữ to dán trên tường phê phán thói kiêu ngạo, bất công, đạo đức giả của cán bộ. Mao tức giận thấy bài viết của Vương được nhiều người t́m đọc: bài viết của ta không có ai đọc lại đọc cái tên lếu láo ấy, không thể được ! Thế là Mao phát động cuộc đấu chống Vương, chụp cho Vương cái mũ cơ hội chống đảng,'' trotskyt '' ngoan cố. Vương bị tố cáo có lúc nói chuyện riêng dám nói xấu cả ''đồng chí lănh tụ Staline''. Vương vào tù không có xét xử, bị chửi bới, đánh đập đến độ bị khuất phục hoàn toàn. Ít lâu sau Vương được đưa ra gặp nhà báo nước ngoài, tự sỉ vả ḿnh là ''trotskyt'', là cơ hội, là thối tha...
Vương bị tù từ cuối 1942 đến đầu 1944 được ra tù, vẫn không được yên thân. Anh bị giết ''không rơ nguyên nhân'' vào năm 1947, khi 41 tuổi, xác được thấy dưới đáy giếng cạn ở gần Diên An.
11-. Jung và Jon nói về một nạn nhân tiêu biểu nữa ở Diên An là người phụ nữ được cử làm người vú bế và trông nom bé gái Li Na của Mao và Giang Thanh. Cô là người vú thứ 3 của Li Na; bố cô chết trên đường hành quân, gồng gánh lương thực cho hồng quân, ốm kiệt sức rồi chết. Cô đến Diên An vào xưởng khâu giầy vải cho hồng quân rồi được cử bế con gái Mao. Cô c̣n phải phục vụ Giang Thanh mỗi lần gội đầu, chải tóc. Một lần Giang Thanh đau bụng, đi ngoài kéo dài. Thế là Giang đổ vấy tội cho cô, vu cáo là cô bỏ chất độc vào sữa cho Mao và Giang uống. Cô bị đấu tố rồi thải loại ra ở hang đá, một kiểu trại khổ sai, phải kéo sợi từ sáng đến khuya cho đến khi t́nh h́nh dịu lại cuối năm 1944.
12-. Nhân vật khét tiếng trong cuộc khủng bố trắng ở Diên An 2 năm 1942-43 là Khang Sinh trùm an ninh. Khang Sinh ở Nga lâu, dưới trướng Staline trong những cuộc khủng bố ghê rợn năm 1938-39, bản chất gian ác. Moscow không tin Khang v́ hắn dễ lật lọng, phản trắc, quan hệ lịch sử không rơ ràng nhưng Mao lại cho thế mới ''tốt'', dễ sai bảo v́ mặc cảm tội lỗi. Trong khủng bố ở Diên An, Khang bày ra nhiều tṛ cực ác, cho rắn, rết, ḅ cạp và chó dữ cắn, treo người, bỏ đói và khát, lạnh cóng, không cho ngủ, đánh bằng gậy, roi ''cặc ḅ '', quất vào chỗ hiểm; Khang có cái tật bệnh hoạn là ưa ngằm nh́n phụ nữ khoả thân, xong quay sang hạnh hạ bằng đủ loại nhục h́nh để được thấy nạn nhân của hắn khiếp sợ ra sao! Khang rất lập dị, chuyên mang kính đen, áo quần đen, đội mũ đen, cưỡi ngựa ô (đen), dắt con chó cũng đen. Thật ra mọi tội ác của Khang Sinh đều được Mao biết và khuyến khích chỉ để phục vụ cho tham vọng quyền lực của riêng ḿnh. Về sau Khang gắn bó chặt với Giang Thanh và ''lũ 4 tên'' trong cách mạng văn hóa rồi bị ung thư cấp tính, chết lặng lẽ cuối năm 1975, khi Mao cũng hấp hối.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/BoChinhtri1938.jpg
Bộ chính trị tại Diên An năm 1938: Từ trái sang: Mao, Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường, Lạc Phủ, Chu Đức, Bác Cổ, Vương Minh, Khang Sinh, Hạng Anh, Lưu Thiếu Kỳ, Trần Vân, Chu Ân Lai
13-. Nạn nhân bi thảm trong khủng bố ở Diên An c̣n có Vương Minh. Vương Minh, tên thật là Trần Thiệu Vũ, sinh năm 1904 từng làm Tổng bí thư một thời gian ngắn năm 1931. Mao đă loại Trần Độc Tú, Trương Quốc Đào, thu phục Lạc Phủ, Chu Ân Lai, cô lập Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức..., rắp tâm vu cáo Vương Minh là chống đảng, vô kỷ luật nhưng Vương vẫn đứng vững v́ Vương có bản lĩnh, lại được Staline, Dimitrov tin cậy. Mao ngăn không để Vương đi sang Nga. Nể sợ Staline, Mao buộc phải xoa dịu với Vương nhưng vẫn nuôi mối thù không đội trời chung với Vương. Mao từng 2 lần cho bộ hạ ám hại Vương bằng thuốc độc. Một lần vào tháng 3-1942, cho bác sĩ Jin dử cho Vương uống chất calomel trộn với soude, làm Vương nôn mửa, gan và lách bị thương tổn nặng. Đến tháng 6-1948 Mao lại cho tay chân ép Vương uống chất Lysol nhằm phá hoại bộ máy tiêu hoá, Vương đau thét vang rồi ngất. Thái độ Staline một thời ghét bỏ Mao cũng thay đổi khi ''giáo sư đỏ'' Vương Gia Tường trung thành với Mao thay Vương Minh làm đại diện đảng cộng sản Trung quốc ở Moscow, mặt khác Staline có thái độ thực dụng thấy Mao củng cố được thế lực khá vững rồi. Vương đành hoà dịu với Mao, thậm chí trong một hội nghị trung ương Vương c̣n có lời ca tụng Mao. Tuy vậy Vương rất buồn bực v́ qua đại hội VII họp ở Diên An tháng 5 và 6-1945 Vương không c̣n ở trong cơ quan lănh đạo. Vương nằm im, đến đầu năm 1950 Vương sang Moscow sống cuộc đời tỵ nạn. Theo lời Khrouchtchev kể Mao c̣n cho tay chân sang Nga để hăm hại Vương nhưng không thành v́ Vương thường cho con chó Tek của ḿnh nếm thức ăn trước và con chó đă chết v́ thức ăn có thuốc độc mạnh. Vương Minh chết ở Liên Xô ngày 27-3-1974.
14-. Từ cuối 1944, Mao xây dựng được sự sùng bái cá nhân ḿnh đến điên loạn. Ảnh Mao in màu phóng to và khẩu hiệu ''lănh tụ vĩ đại Mao vạn tuế'' ở khắp nơi. Bài hát ''Đông phương hồng'' vang khắp. Huy hiệu h́nh Mao được sản xuất ngày càng nhiều, càng lớn. Tŕ cữu chiến (đánh lâu dài), Tân dân chủ chủ nghĩa, Mâu thuẫn luận, Thực tiễn luận... là những tác phẩm của Mao được in và phát hành rộng răi. Tượng bán thân rồi tượng toàn thân Mao được dựng lên. Mọi sự đều khởi đầu làm mẫu từ Diên An rồi toả rộng khắp nước. Mao từ bỏ dần chính sách khủng bố, thanh trừng, c̣n mị dân, làm ra vẻ khiêm tốn, tiếc những sai lầm quá đáng vừa qua với luận điệu: quá tay v́ quá hăng say, lầm lỡ như pha thuốc khử trùng quá mạnh, xử sự trong màn đêm khó phân biệt đúng sai, ta địch; nhiều cán bộ được phục hồi và khen thưởng. Khủng bố thanh trừng và sùng bái lănh tụ, mị dân là hai cột trụ, thành chiếc thang dang vọng và quyền lực cá nhân cao tột đỉnh của Mao.
15-. Ở Diên An, Mao giành thắng lợi trọn vẹn tại Đại hội VII đảng CS Trung hoa họp từ 23-4 đến 11-6-1945, khi Đức đầu hàng và Nhật sắp tan ră. Đă 17 năm, sau Đại hội VI ở gần Moscow (tháng 7-1928) nay mới có Đại hội đảng. Về sau, 11 năm nữa mới có Đại hội VIII (tháng 9- 1956) ở Bắc Kinh. Tại Đại hội Diên An 755 đại biểu về họp. Mao được cử là Chủ tịch ban chấp hành trung ương đảng, đứng đầu bộ chính trị, đứng đầu ban bí thư.
Đây là bàn đạp để Mao tiến lên chiếm lĩnh cả giang sơn Trung quốc hơn 4 năm sau.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:15 PM
V - Mao với sự biến Tây An - bắt cóc Tưởng Giới Thạch
1-. Tháng 10-1936 một sự kiện chấn động dư luận thế giới, Tưởng Giới Thạch bị bắt cóc ở Tây An. Tưởng c̣n được gọi là Tưởng Tổng Tài, Tưởng Thống Chế, là người đứng đầu Quốc Dân Đảng sau khi Tôn Dật Tiên mất năm 1925. Tưởng thống nhất đất nước vào năm 1928, đứng đầu Chính phủ và quân đội Trung hoa, đóng đô tại Nam Kinh.
Cuốn sách của Jung và Jon với những tài liệu và chứng cứ mới cho ta một cách nh́n mới về sự kiện gọi là ''sự biến Tây An''.
2-. Nhân vật chính trong sự kiện này là Trương Học Lương (Zhang Xue Liang), con của nhà quân phiệt lừng danh Măn Châu Trương Tác Lâm (Zhang Tso Lin), bị ám sát tháng 6-1928. Khi Nhật tiến chiếm Măn Châu năm 1931, Trương đem 200 ngàn quân vào vùng Thiểm Tây, đặt dưới trướng của Tưởng Giới Thạch. Trương Tác Lâm được gọi là Tà Soai (Đại Soái) c̣n Trương Học Lương là Xẻo Soai (Tiểu Soái).
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Truong-Tuong.jpg
Tưởng Giới Thạch (phải) và Trương Học Lương (trái)
Lương có tham vọng cực lớn, từng giao thiệp rộng, từ Âu châu sang Mỹ, quan hệ một thời khá thân với cả gia đ́nh Mussolini, thường khoe giang sơn của ḿnh rộng bằng cả Pháp và Anh cộng lại. Lương c̣n quan hệ kín đáo với một số nhà ngoại giao Liên Xô. Lương có tính ngông nghênh, ăn chơi xả láng, có máy bay riêng, thuê một người Mỹ lái. Mộng tưởng ngông cuồng của Trương là sẽ thay thế Tưởng ngự trị đất Trung Hoa.
Tham vọng của Trương lọt vào tầm mắt Staline, khi Tưởng tỏ ra yếu, không dám đương đầu tuyên chiến với Nhật, khi Xít muốn chiến tranh Trung - Nhật nổ ra quyết liệt kéo dài để Nhật sa lầy và tiêu hao trên chiến trường mênh mông này, không c̣n sức đe doạ Liên Xô. Với tính toán ấy, Xít thường thôi thúc Hồng quân Trung hoa chống Nhật mạnh mẽ, điều mà Mao rất lừng khừng.
Mao cũng tính đến một liên minh với Lương nhằm hạ Tưởng khi Trương cũng được sự tiếp sức của Liên Xô. Mao ngỏ ư ủng hộ Trương trong ư đồ thay chân Tưởng, Mao c̣n để Trương hiểu ngầm rằng Moscow sẽ chi viện lớn tiền và vũ khí cho Trương.
3-. Tháng 10-1936 khi đội Hồng quân đi Tân cương để tiến về phía biên giới Liên Xô bị sa lầy, Tưởng báo cho Trương ông ta sẽ cũng cán bộ tham mưu đến Tây An bản doanh của Trương để kiểm tra t́nh h́nh, đốc chiến cuộc truy quét Hồng quân đang nao núng. Lập tức Trương nghĩ đến chuyện bắt giữ và có thể giết Tưởng. Trương báo mật tin cho Mao ở căn cứ cách Tây An có 300 kilômet, cùng trong tỉnh Thiểm Tây. Mao liền phái Diệp Kiếm Anh đến gặp Trương bàn định chuyện này. Vào lúc này xảy ra đột biến. Ngày 25-11-1936 Nhật và Đức kư Hiệp ước liên minh chống cộng sản quốc tế (Pacte anti - Komintern) làm cho Staline từ bỏ ư định chống Tưởng và chỉ thị gấp cho Dimitrov cầm đầu tổ chức Komintern nhắc đảng cộng sản Trung Hoa phải liên minh với Tưởng lập chính phủ liên minh chống Nhật.
Mao tuy sợ Staline một phép, nhưng lại tiếc dịp hiếm loại bỏ Tưởng với hy vọng bản thân sẽ có dịp nổi lên một khi Tưởng chết, Quốc dân đảng mất lănh tụ.
4-.Thế là Trương được Mao khuyến khích lao vào hành động, với bản chất hiếu danh, phiêu lưu, từng tuyên bố ''cờ bạc là nghề của ta'', may ra thắng to. Ngày 4-12 Tưởng với vài chục sĩ quan và cận vệ đến Tây An. Quân của Trương bảo vệ ṿng ngoài đă biết rơ thậm chí thực tập việc đột nhập pḥng ngủ của Tưởng. Mờ sáng 12-12, Tưởng sau khi tập thể dục đang mặc quân phục th́ 400 quân của Trương tiến công giết viên sĩ quan an ninh và một số cận vệ của Tưởng. Tưởng thấy động chạy ra ngoài đồi th́ bị bắt. Tin Tưởng bị bắt cóc vang động toàn thế giới, được gọi là ''sự biến Tây An''.
5-. Ở Diên An, Mao được kể lại là ''cười như điên'' khi nhận được tin này, hí hửng nghĩ rằng rồi Liên Xô sẽ càng lao vào giúp đảng ḿnh gấp bội. Mao lầm to ! Khi Mao điện cho Moscow đề xuất việc xin giết Tưởng th́ đúng vào lúc báo Pravda (Sự thật) ở Moscow đăng xă luận lên án cuộc bắt cóc, bảo vệ Tưởng với nhận định: hành động bạo lực này chỉ có lợi cho bọn Nhật bản xâm lược. Ngày 16-12 Dimitrov thay mặt Đệ tam Quốc tế Cộng sản điện cho Mao với lời lẽ nghiêm khắc lên án cuộc bắt cóc làm lợi cho Nhật bản và chỉ thị cho đảng cộng sản Trung hoa tham gia trả tự do và quyền lực cho Tưởng. Mao rất ương ngạnh coi như không có chỉ thị của Moscow, hy vọng Trương vốn tính liều lĩnh, manh động vẫn sẽ sớm thủ tiêu Tưởng. Nhưng Mao nhầm to, Trương không dám làm ẩu.
6-.Trương khôn ngoan, hiểu rơ t́nh h́nh, quyết định trả lại tự do cho Tưởng với tất cả quyền lực cũ, tự đến trước mặt Tưởng khóc và cúi đầu nhận tội, c̣n giao sinh mệnh ḿnh cho Tưởng, tự nguyện theo Tưởng làm ''tù binh'' để được an toàn. Vợ Tưởng là Tống Mỹ Linh được Trương mời đến Tây An đón Tưởng bằng máy bay, Tưởng trở về Nam Kinh như một anh hùng vào đúng ngày Noel 24-12-1936, sau 12 ngày đêm bị giữ.
Xẻo Soai (Tiểu Soái) Trương Học Lương theo Tưởng 40 năm sau đó, bị giam lỏng ở Đài loan, sau khi Tưởng chết năm 1975, tổng thống mới Lư Đăng Huy cho Trương được hoàn toàn tự do, Trương sang sống tại Hoa kỳ, chết ở Hawaii năm 2001 khi 102 tuổi, thọ hơn cả Mao và Tưởng một phần tư thế kỷ.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/WangMing-1.jpg
Vương Minh (bên phải) là đối thủ chính trị lớn
6-. Tuy Mao ôm hận khôn nguôi, hụt mất dịp diệt Tưởng để nổi lên, Mao vẫn tận dụng sự biến Tây An để kiếm lợi. Mà lợi rất to. Mao yêu cầu Trương ngay sau sự biến để cho Chu Ân Lai đến Tây An tham gia giải quyết t́nh h́nh và hy vọng Chu có thể gặp Tưởng. Staline liền nghĩ ra diệu kế là đưa vấn đề Tưởng Kinh Quốc đang c̣n bị giữ ở Liên Xô ra mặc cả. Kinh Quốc là con trai duy nhất của Tưởng Thống chế, được gửi sang Liên Xô từ năm 1925, mấy lần Tưởng-cha đ̣i Tưởng-con trở về nước nhưng Staline vẫn giữ làm con tin. Được tin ấy, Tưởng đồng ư gặp Chu Ân Lai và trong niềm vui sắp được tự do, lại sắp gặp con trai quư sau 11 năm dài xa cách, Tưởng thoả thuận với Chu một loạt điều hệ trọng đối với đảng Cộng sản: coi đảng cộng sản là một chính đảng hợp pháp - không c̣n bị coi là phiến loạn - khi chịu tôn trọng luật pháp quốc gia, có vùng đất tự quản, có thủ phủ của ḿnh, được cấp ngân sách và có quân đội đặt dưới quyền của chính phủ trung ương. Điều này có nghĩa là nội chiến Quốc - Cộng chấm dứt. Đảng Cộng sản Trung hoa có vùng đất rộng 129.000 kilômet vuông với 2 triệu dân, với Diên An là thủ phủ. Tưởng đảm nhận trang bị và trả lương cho 46 ngàn quân sĩ cộng sản.
Ngay sau đó, tháng 3 -1937, Moscow để Tưởng Kinh Quốc trở về, do Khang Sinh trong ngành t́nh báo của Mao dẫn đi bằng đường xe lửa xuyên Xibêri suốt một tuần lễ.
Ngày đầu năm 1-1-1937 Hồng quân và các cơ quan trung ương đảng CS rải rác ở phía Nam và Tây tỉnh Thiểm Tây tiến vào Diên An. Từ đó Diên An trở thành Thủ đô Đỏ, căn cứ cộng sản hợp pháp, nơi Mao ngự trị trong mười năm đi đến chiếm lĩnh toàn đất nước Trung Hoa.
7-. Nhân trên đây nói về Tưởng Kinh Quốc (Chiang Chinh Kuo) được trở về Trung quốc sau hơn 10 năm ở Nga, Jung và Jon cho thấy vài điều lư thú. Tưởng Giới Thạch chỉ có một con trai duy nhất sinh năm 1910 từ người vợ đầu tiên. Sau khi vợ chết, ông lấy Tống Mỹ Linh (Soong Mei Ling) em gái của Tống Khánh Linh (Soong Qing Ling), vợ của Tôn Dật Tiên, người sáng lập Quốc Dân Đảng. Hai chị em xinh đẹp, từ gia đ́nh giàu có và quyền quư họ Tống nổi tiếng. Tống Khánh Linh sau 1949 là Phó chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Lúc ấy bộ chính trị Trung quốc c̣n nghiêm khắc với quy định để Mao lấy Giang Thanh nhưng Giang không được tham gia công việc chính trị (v́ từng có nhiều quan hệ với mật vụ Quốc dân đảng) nên đệ nhất phu nhân ở Bắc kinh trên thực tế là bà phó Chủ tịch Tống Khánh Linh, c̣n ở Đài loan, đệ nhất phu nhân là Tống Mỹ Linh. Hai chị em ruột đều là ''bà lớn số 1'', đối lập nhau, chỉ cách nhau một eo biển, thật ngộ ! Với Tống Mỹ Linh, Tưởng không có con, các bác sĩ gần ông cho là v́ ăn chơi, ông mắc bệnh phong t́nh, không có con được. Năm 1925 giữa lúc quan hệ giữa Tưởng và Liên Xô khá mặn mà, Moscow ngỏ ư nhận con trai Tưởng sang ăn học lâu dài, Tưởng tán thành ngay. Cậu bé Kinh Quốc 15 tuổi thông minh học giỏi, biết nhiều ngoại ngữ, đến 20 tuổi học về kỹ thuật công nghiệp rồi nhận công việc kỹ sư trong vùng núi Oural. Từ năm 1934, Tưởng ngỏ ư muốn đón con về nước, nhưng phía Liên Xô tŕ hoăn, khi th́ nói Kinh Quốc đang nghiên cứu dở dang, khi th́ là Kinh Quốc chưa muốn về. Năm 1935, hai lần vào tháng 6 và tháng 10, Tưởng sốt ruột cho em rể ḿnh là bộ trưởng tài chính Tống Tử Văn (Soong Zi Wen, Soong T.V.) và phái viên Trần Lập Phu (Chen Li Fu) nhắc lại yêu cầu này, nhưng đại sứ Nga Dimitri Bogomolov ở Nam Kinh vẫn hứa suông. Tháng 3-1935 Tưởng Kinh Quốc lấy vợ là cô Faina Vakhreva, một kỹ thuật viên của nhà máy, đến tháng 12-1935 cô sinh một con trai. Tưởng mừng lắm v́ rất thương yêu con cháu, và quan tâm đến việc kế nghiệp ḿnh, điều mà Tưởng Kinh Quốc thực hiện theo đúng ư người cha.
Con của Tưởng trong tay Staline đă trở thành con tin có giá trị đổi chác cao; tự do cho con trai Tưởng được đổi lấy tự do và quy chế hoạt động công khai cho toàn đảng Cộng sản Trung quốc, cho Nhà nước đỏ, cho Hồng quân, để làm cơ sở chiếm lĩnh toàn quốc, bành trưứng chủ nghĩa cộng sản ở châu Á.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/MaoNganAnhgiua.jpg
Mao Ngạn Anh (lớn nhất, ở giữa) và em được sang Nga học
8-. Staline cũng dùng chính sách con tin với con của Mao. Đầu năm 1937, Moscow được biết Mao có hai con là Mao Ngạn Anh và Mao Ngạn Thanh ở Thượng Hải do một gia đ́nh mục sư Tin lành nuôi giữ, sống nghèo khổ, nhiều khi c̣n đi lêu lổng, bới rác, yêu cầu cho sang Nga ăn học. Mao lấy bà vợ thứ hai khi ở Trường Sa là Dương Khai Tuệ trong một gia đ́nh trí thức, sinh ra với Mao 3 con trai là Ngạn Anh, Ngạn Thanh và Ngạn Long. Sau khi Khai Tuệ bị quân Quốc Dân Đảng giết, ba anh em được đưa sang Thượng Hải để các nhà hảo tâm Tin lành nuôi. Đến nơi vài tuần th́ Ngạn Long là em út chết v́ kiệt sức khi mới 4 tuổi. Cũng vẫn Khang Sinh tổ chức đưa hai anh em Anh và Thanh sang Nga qua Paris thủ đô Pháp vào đầu năm 1937. Chỉ có Anh học hành tốt, c̣n Thanh bị suy nhược, ngăng tai và bệnh tâm thần không học được. Tháng 5-1943, Mao Ngạn Anh 21 tuổi, học xong chương tŕnh trung học, khá về ngoại ngữ, xin trở về nước. Moscow lần lữa. Staline lại dùng đến chính sách con tin khi nổ ra xung đột giữa Mao với Vương Minh (c̣n có tên Trần Thiệu Vũ) đến mức quyết liệt vào năm 1944. Mao do ham quyền lực tột đỉnh nên luôn thấy ở Vương Minh kẻ thù nguy hiểm nhất, c̣n nguy hơn Trương Quốc Đào, v́ Vương có nhiều tài năng lănh đạo và chức vị trong đảng vượt xa Mao, lại được Quốc tế CS hiểu rơ, được Staline, Dimitrov tín nhiệm do từng 4 năm là đại diện đảng CS Trung hoa ở Liên Xô. Vương nhỏ bé dáng thư sinh nhưng am hiểu sâu thời đại, lịch sử, có năng khiếu diễn thuyết, tranh luận bằng cả tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức. Về đến Diên An, Mao kéo cánh với Lạc Phủ, Trương Văn Thiên, doạ Chu Ân Lai, cô lập vu cáo Vương Minh, kết đủ tội: vô tổ chức, cơ hội hữu khuynh, cá nhân chống tập thể, tổ chức đấu tố Vương, cho đến nhiều lần cho uống chất độc để tàn phá thần kinh, bộ máy tiêu hoá của Vương qua tay những bác sĩ Mao sai bảo. Vương Minh kiên định bác bỏ vu cáo c̣n báo cho Moscow biết và t́m cách sang Nga tŕnh bày và chữa bệnh. Mao rất sợ Vương thoát khỏi tay ḿnh. Tháng 8-1943 Moscow cho máy bay đến Diên An đón Vương Minh, Mao viện cớ Vương đang ốm bác sĩ không cho đi xa. Staline liền nghĩ kế, bắn tin rằng nếu Mao để Vương đi th́ con trai Mao sẽ được về Diên An. Mao không trả lời. V́ khác hẳn với Tưởng, ở Mao t́nh cảm với vợ con rất mờ nhạt. Về sau, Staline bỏ rơi vấn đề đ̣i Vương sang Nga khi Mao lùi chiến thuật làm như không c̣n găng với Vương Minh. Staline vẫn o bế Mao, tháng 10-1945 cho máy bay chở Ngạn Anh về Diên An, c̣n cho Anh khẩu súng ngắn khắc tên ḿnh làm kỷ niệm.
Thế là Staline dùng con trai Tưởng làm con tin có lợi bao nhiêu th́ việc dùng con trai cả của Mao làm con tin, khi nhả mồi chẳng có lợi ǵ. Mao Ngạn Anh lúc ấy đă 23 tuổi. Năm 1948 Anh xin Mao được lấy Lưu Tư Tề (Liu Si Qi) c̣n có tên là Lưu Tùng Lâm (Liu Song Lin), một cô gái xinh được Mao xem là ''con nuôi'' luôn ở trong số các cô y tá, chăm sóc, phiên dịch quanh Mao. Mao nổi cơn ''ghen'' mắng mỏ Anh rồi lại phải chấp nhận nhưng hẹn sau ngày thành lập nước 1-10-1949 mới cưới. Mao không dự lễ cưới. Sau khi chiến tranh Triều tiên bùng nổ, Ngạn Anh được cử làm phiên dịch tiếng Nga trong sở chỉ huy của Nguyên soái Bành Đức Hoài. Ngạn Anh chết ngày 25-11-1950 trong một trận bom dội trúng sở chỉ huy, khi 28 tuổi. Mao không cho công bố tin này, giấu vợ Ngạn Anh cho đến khi chiến tranh kết thúc hai năm rưỡi sau.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:17 PM
VI - Mao trong cuộc chiến tranh chống Nhật
1-. Ngày 7-7-1937, sự kiện xung đột giữa quân Nhật và quân Trung Quốc tại Lư Cầu Kiều (c̣n gọi là cầu Marco Polo) đă làm nổ ra cuộc chiến tranh Nhật - Trung. Cuối tháng 7, quân Nhật với ưu thế quân sự, chiếm luôn 2 thành phố lớn nhất phía Bắc Trung quốc là Thiên Tân và Bắc Kinh.
Thế nhưng sau đó chiến tranh như ngừng lại. Quân Nhật không mở rộng địa bàn chiếm đóng. Ở thủ đô Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch cũng không tuyên chiến với Nhật, chỉ kêu gọi Hội Quốc Liên can thiệp. Cả 2 bên đều chưa muốn chiến tranh mở rộng. Nhật chỉ muốn chiếm một vùng đất phía Bắc làm bàn đạp sau này. Ở gần Thượng hải Nhật có một trại đóng hải quân chừng 3 ngàn quân do cuộc ngừng bắn từ năm 1932 quy định.
2-.Một tháng sau, chiến sự lớn đột nhiên nổ ra ở ngay Thượng hải rồi lan rộng. Nguyên nhân v́ đâu. Điều bí ẩn nay được phơi bày. Trước đây dư luận hầu như đều cho rằng do phía Tưởng cố t́nh tiến công trước. Nay mới rơ : chiến sự mở rộng do ư định của Staline. Staline e ngại rằng Nhật bản đang chiếm đóng Măn Châu, với số quân đông, nay lại chiếm một phần phía Bắc Trung quốc ở gần biên giới Liên Xô, có thể dễ dàng gây chiến với Liên Xô, điều mà Staline cố tránh. Staline chỉ mong sao Nhật đánh về phía Nam Trung quốc để rồi sẽ bị sa lầy ở chiến trường Trung hoa rộng lớn. Staline đă tạo nên một nhân vật lợi hại thực hiện ư định chiến lược của ḿnh. Nhân vật ấy là một viên tướng của Tưởng: Trương Trị Trung (Zhang Zhi Zhong, thường gọi tắt là ZZZ).
3-. Trương Trị Trung lúc ấy là Tư lệnh vùng Thượng Hải - Nam Kinh. Năm 1925 Trương từng là giáo viên Học viện quân sự Hoàng Phố - Quảng Châu do Liên Xô lâp nên để đào tạo sĩ quan trung cao cấp cho quân đội của Tưởng; khi Quốc - Cộng hợp tác chống Nhật, nhiều sĩ quan Hồng quân cũng được đào tạo tại đó. Tại Học viện này, ZZZ được gọi là ''giáo sư đỏ'', ''sư trưởng đỏ'', có cảm t́nh với cộng sản. Sau này ZZZ kể rằng có lúc ông yêu cầu Chu Ân Lai - khi ấy là Chủ nhiệm chính trị của Học viện, kết nạp ông vào đảng cộng sản, nhưng Chu trả lời : tốt hơn hăy hợp tác bí mật với đảng cộng sản. Những năm 1930, ZZZ có quan hệ với Sứ quán Liên xô ở Nam kinh, như Lépine tủy viên quân sự và đại sứ Bogolomov.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/LuCAuKieu.jpg
Lư Cầu Kiều
Ngay sau sự kiện Lư Cầu Kiều, ZZZ đă yêu cầu Tưởng tiến công trở lại quân Nhật ở vùng Thiên Tân - Bắc Kinh, giữ quyền chủ động, nhưng Tưởng không đồng ư. Tiếp đó ZZZ lại đề nghị Tưởng chủ động tiến công quân Nhật ở ngay Thượng Hải, Tưởng vẫn không đồng t́nh, v́ Thượng Hải đang là trung tâm công nghiệp - tài chính, lại quá gần thủ đô Nam kinh. Cuối cùng Tưởng căn dặn khi có dấu hiệu quân Nhật sắp sửa tiến công, vẫn phải chờ lệnh để hành động.
Ngày 9-8, ZZZ dựng lên một cuộc xung đột ở sân bay Thượng hải. bố trí một người tù mặc quân phục sĩ quan bị một sĩ quan và lính Nhật bắn chết, rồi 2 người này bị bắn trả, nhằm khơi ng̣i cho cuộc xung đột lớn. Nhưng phía Nhật cũng như phía Tưởng đều không muốn chiến tranh lan rộng. Tưởng vẫn chủ trương tự kiềm chế, không gây sự. Ngày 14-8, ZZZ ra lệnh chuẩn bị cho máy bay ném bom tàu chỉ huy Izuma của Nhật và một số vị trí quân Nhật, Tưởng liền ngăn lại: không được tiến công, chờ khi có lệnh. Ngày 15, ZZZ ra thông báo báo chí, báo tin (hoàn toàn bịa đặt) quân Nhật đă ném bom Thượng hải và quân Nhật đă bắn vào dân chúng, cả một làn sóng căm thù Nhật bản lan rộng, lên cao. Tưởng đành phải ra lệnh: tổng tiến công sáng sớm mai! ( ngày 16). Ngày 18 Tưởng lại ra lệnh ngừng bắn. Nhưng quân Nhật đă gửi quân tiếp viện. Chiến tranh lan rộng, ngày càng quyết liệt. Số thương vong 2 bên ngày càng lớn. Và rồi chiến tranh kéo dài đến 8 năm.
Vài tuần sau ZZZ xin từ chức, sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong lịch sử gián điệp quốc tế, có thể coi đây là một trong những trường hợp tiêu biểu thành công nhất, làm chuyển biến sâu sắc t́nh h́nh rồi ''hạ cánh'' nhẹ nhàng. ZZZ ở lại lục địa Trung quốc và sống ở Bắc Kinh.
4-. Một nhân vật t́nh báo cộng sản Trung quốc khác được coi là chui sâu, leo cao và có hiệu quả chiến lược là Thiệu Lập Từ (Shao Li-tzu) vẫn ở trong Quốc dân đảng suốt 22 năm lại làm việc cho đảng cộng sản đến năm 1949 mà không hề bị lộ. Điều kỳ lạ là Thiệu từng có chân trong số sáng lập viên của đảng cộng sản Trung quốc, rồi thay đổi tên.. Chính Thiệu từng dẫn con trai Tưởng là Tưởng Kinh Quốc sang Pháp rồi sang Nga tháng 11 năm 1925. Về sau Tưởng giao cho Thiệu chức tỉnh trưởng tỉnh Thiểm Tây là nơi có nhiều căn cứ Đỏ, kể cả Diên An, là thủ đô Đỏ. Trong 2 năm 1937-38, Tưởng cử Thiệu làm trưởng Ban tuyên truyền của Quốc dân đảng chỉ đạo mạng lưới tuyên giáo truyền thông báo chí. Thiệu am hiểu chính trị quốc tế, thấu hiểu nhiều ngoại ngữ, quan hệ rộng với giới báo chí Âu - Mỹ, dưới chiêu bài ''tuyên truyền khách quan'' đă làm cho chủ nghĩa cộng sản dễ chấp nhận và chủ nghĩa cộng sản quốc tế có tính nhân văn, che dấu bản chất hung bạo phi nhân của nó. Sau khi cộng sản toàn thắng, Thiệu ở lại trên lục địa, nhiều lần gặp lại Mao, được khen thưởng, và chết tại Bắc kinh năm 1967.
5-. Staline rất thích thú khi ZZZ thực hiện ư ḿnh, làm cho chiến tranh Trung - Nhật lan rộng xuống phía Nam Trung quốc, liền tăng gấp viện trợ quân sự cho Tưởng. Ngày 21-8-1937 Liên Xô kư với Tưởng Hiệp ước không xâm lược Xô - Trung và viện trợ vũ khí. Liên xô bán cho Tưởng 1 ngàn máy bay, nhiều xe tăng, pháo binh. Staline c̣n cử sang 300 cố vấn quân sự đứng đầu là tướng Vassili Tchouikov, nói được tiếng Trung quốc. Suốt 4 năm cho đến năm 1940 Liên xô gần như là nguồn cung cấp vũ khí duy nhất cho Tưởng.
Không những vậy, Staline c̣n cử quân chiến đấu sang giúp Tưởng, cũng là để thí nghiệm vũ khí mới sản xuất. Theo thống kê bán chính thức, từ 12-1937 đến cuối 1939, 2 ngàn phi công Nga đă lái máy bay chiến đấu trên chiến trường Trung hoa, hạ chừng 1 ngàn máy bay Nhật, và có lần ném bom cả Đài loan, lúc ấy bị quân Nhật chiếm đóng.
5-.Staline c̣n nhiều lần chỉ thị cho Mao rằng đảng cộng sản Trung quốc và Hồng quân Trung hoa cần tịch cực tham gia chống Nhật, lôi cuốn mạnh mẽ Tưởng vào cuộc chiến đấu này.
Nhưng Mao nghĩ khác. Lúc ấy Hồng quân Trung quốc có 60 ngàn quân chính quy, trong đó 46 ngàn đóng ở vùng Tây - Bắc, với thủ đô là Diên An. Đoàn quân này mang tên Bát Lộ quân, do Chu Đức làm tư lệnh, Bành Đức Hoài làm phó. C̣n 10 ngàn quân đóng ở phía dưới sông Dương Tử là Tân Tứ quân, tư lệnh là Hạng Anh (Xiang Ying).
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/maoPoKufarleft.jpg
Mao và nhị Chu
Mao luôn nghĩ rằng trên chiến trường Trung Hoa có 3 thế lực theo thế chân vạc như thời Tam quốc: Quốc dân đảng, Cộng sản và Nhật. Phải thúc đẩy cho quân Nhật và quân Tướng đánh nhau thật lực. Quân Nhật đánh ngày càng sâu vào nội địa đuổi theo quân Tưởng th́ lại càng tốt. Quân của Mao cứ việc theo gót chân quân Nhật, chiếm các vùng quân Nhật bỏ lại, biến thành căn cứ của ḿnh. V́ quân Nhật không có dân, không có chính quyền và kinh tế tại chỗ nên không thể trụ lại. Chỉ có quân của Mao làm được. Hơn nữa sau mỗi cuộc đọ sức giữa quân Nhật và quân Tưởng, lính Tưởng bỏ ngũ nhiều, Hồng quân thu nhận số tàn quân ấy, nuôi dạy để bổ xung cho quân ḿnh.
Mao cũng nhiều lần nói rơ với Tưởng là Hồng quân chỉ là lực lượng phối hợp phụ trong cuộc chiến chống Nhật thôi, Tưởng cũng đồng ư vậy.
6-.Staline luôn nhắc Mao rằng Hồng quân phải tận lực cùng quân của Tưởng tấn công quân Nhật. ''Đánh Nhật trước hết ! ''. Mao không thực hiện khẩu hiệu ấy. Lâm Bưu lại hưởng ứng, cho rằng có dùng quân, quân mới trưởng thành. Lâm Bưu đă chỉ huy trận đánh quân Nhật vang dội ở B́nh H́nh Quan, phía Đông Bắc tỉnh Thiểm Tây. Chu Đức và Bành Đức Hoài cũng muốn đánh Nhật, Mao liền triệu về Diên An để cầm chân. Cuộc tranh luận Nhật với Tưởng, đâu là kẻ thù chính, số 1, ưu tiên, kéo dài cho đến cuộc họp tháng 8 và tháng 9 -1937, Mao lôi kéo Lạc Phủ, Vương Gia Tường, tranh thủ Chu Ân Lai, Bác Cổ, cô lập Vương Minh, đi đến kết luận : kẻ thù số 1 của chúng ta là Tưởng Giới Thạch. Mao dùng đến cả thủ đoạn mỹ nhân kế, cung cấp cho Lạc Phủ và Vương Gia Tường mỗi người một cô vợ trẻ đẹp. Lưu Thiếu Kỳ và Bành Đức Hoài cuối cùng cũng đứng về phía Mao, ủng hộ quan điểm của Mao. Để tranh thủ thiện cảm của Staline, Mao một mặt kiểm soát kỹ mọi điện liên lạc từ Diên An sang Moscow, một mặt cử một loạt phái viên sang gặp Staline để nói tốt về ḿnh. Đó là Vương Gia Tường, rồi Lâm Bưu, cả Nhiệm Bật Thời (Ren Bi -shi), rồi đến em ruột Mao là Mao Trạch Dân (Mao Tse-min) và cuối cùng là Chu Ân Lai. Chu đến Moscow đúng vào lúc chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra vào tháng 9-1939, khi Mao đă củng cố vị trí vững chắc số 1 trong đảng và trong Hồng quân. Điều thuận lợi cho Mao là Staline tỏ ra đồng ư trên một điểm là nếu Hồng quân bị quân Tưởng tiến công hay bị đe dọa tiến công th́ có thể giáng trả và giáng trả mănh liệt, trách nhiệm về nội chiến là thuộc về phía họ.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/mao12.jpg
Mao cho xoá bỏ h́nh Bác Cổ khỏi tấm h́nh đă chụp
Trong 2 năm 1939-40 những cuộc xung đột Quốc - Cộng ngày càng nhiều, tuy quy mô không lớn. Tháng 2-1940 Mao báo cáo rơ cho Staline là phần lớn các trận đụng độ, hồng quân giành phần thắng v́ chủ động, tinh thần binh lính tốt hơn; riêng ở Hà Bắc đă loại 6 ngàn quân Quốc dân đảng, c̣n ở Thiểm tây là 10 ngàn...Staline tỏ ra hài ḷng, gửi Chu Ân Lai mang về một máy liên lạc Radio loại tốt cùng 30 vạn đôla để chuyển cho Mao.
6-. Tháng 5-1940 thủ đô Trùng Khánh của Tưởng bị Nhật ném bom ngày càng dữ dội. Sau này được biết Trùng Khánh là thành phố chịu đứng nhiều bom đạn nhất trên thế giới, bằng 1/3 tổng số bom các nước đồng minh rải xuống toàn nước Nhật trong cuộc chiến tranh Thái B́nh Dương. Trước t́nh h́nh ấy, Bành Đức Hoài phó tư lệnh Bát lộ quân liển lên kế hoạch tiến công lớn từ 20-8-1940, suốt gần một tháng vào trang thiết bị, cầu cống hệ thống đường sắt và đường bộ quân Nhật thường dùng. Tổn thất cho quân Nhật là cực lớn, chúng phải chuyển từ tiền tuyến về một sư đoàn để dọn dẹp, sửa chữa, nhiều cuộc hành quân bị đảo lộn. Uy tín Hồng quân lan rộng. Cùng với trận B́nh H́nh Quan, cuộc tiến công lớn này là 2 trận thắng vang dội của Hồng quân trong chiến tranh chống Nhật. Bát lộ quân sau đó lên đến 40 ngàn quân, vượt quá số quân 2 năm trước.
7-. Ngày 22-6-1941, Đức tiến công Liên xô, làm đảo lộn mọi tính toán của Mao. Mao luôn mong được sự chi viện lớn về mọi mặt của Liên xô th́ nay Liên xô phải tập trung mọi sức lực chống phát xít Đức. Mao mất ngủ dài dài. Mao lao vào công việc củng cố tổ chức, huấn luyện cán bộ, đảng viên, binh sĩ, làm kinh tế, trồng trọt, chăn nuôi, kể cả trồng thuốc phiện để tăng ngân sách.
Trong việc trồng thuốc phiện, Mao tỏ ra hăng hái đặc biệt. Quanh Diên An các thửa ruộng đất tốt nhất là dành cho thuốc phiện, từ 6 ngàn héc-ta lên dần đến 12 ngàn rồi 15 ngàn héc-ta năm 1943. Năm 1943, Diên An thu hoạch được hơn 44 tấn thuốc phiện. Thuốc phiện trồng xen với ruộng ngô và ruộng kê. Ở phía Bắc Thiểm tây, có một viên tướng Quốc dân đảng nổi tiếng về trồng trọt, khai thác, chế biến và kinh doanh thuốc phiện là tướng Đặng Bảo Sơn (Teng Pao-shan), trở nên bạn của Mao. Do trồng thuốc phiện mà nền kinh tế ngèo nàn có lúc kiệt quệ vùng đỏ Thiểm tây trở nên khá giả. Mao sống cuộc sống vương giả, mỗi bữa ăn có đến 7, 8 món khác nhau.
8-. Từ đầu năm 1944, thắng lợi to lớn trên mặt trận châu Âu và Thái B́nh Dương của Liên xô và lực lượng đồng minh mang lại sinh khí mới cho Diên An và các vùng căn cứ đỏ. Mao tập trung sức chuẩn bị cho Đại hội đảng lần thứ VII họp vào tháng 4-1945. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, Chu Đức từng có lần lên tiếng phê b́nh, can ngăn Mao nay đều đă quay về tỏ ư hoàn toàn khuất phục. Tất cả đều tuân theo ư Mao là ghi vào Điều lệ đảng hẳn một điều khoản là '' lấy Tư tưởng Mao Trạch Đông làm cơ sở lư luận và tư tưởng ''.
Quân phiệt Nhật đang trên đà thất bại không sao tránh khỏi. Cuộc nội chiến Quốc - Cộng sẽ là cuộc đọ sức sinh tử ở ngay trước mắt. Hồng quân sau 8 năm chiến tranh chống Nhật đă lớn mạnh trông thấy. Nay đă thành những binh đoàn đông đảo cộng với dân quân khá rộng khắp với tổng quân số là 1 triệu 300 ngàn quân, gấp gần 16 lần 8 năm về trước. Nhưng quân Quốc dân đảng vẫn c̣n đến gần 4 triệu quân. Mao sẽ c̣n phải dựa vào Liên Xô, vào Staline và vào Đệ tam Quốc tế cộng sản để xoay chuyển t́nh thế, tiến lên hoàn thành tham vọng cá nhân cháy bỏng của ḿnh, ngự trị như một Hoàng đế toàn năng trên một đất nước bao la với số dân lớn nhất thế giới.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:18 PM
VII - Mao với một cuộc chuyển bại thành thắng
1-. Tháng 5-1945, phát xít Đức đầu hàng. Theo đúng thoả thuận Yalta giữa Mỹ-Anh-Liên Xô là Liên Xô sẽ tiến công phát xít Nhật 3 tháng sau khi quân Đức đầu hàng, ngày 9-8-1945 một triệu rưởi quân tinh nhuệ của Hồng quân Liên Xô tiến vào Trung quốc trên một trận tuyến dài 4.600 kilômet phía Đông-Bắc Trung hoa để đánh quân Nhật. Ngày 15-8 Nhật đầu hàng. Đầu tháng 8, Liên Xô kư với chính phủ Tưởng hiệp ước hữu nghị và liên minh Xô - Trung , công nhận Tưởng cầm đầu chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung quốc; hiệp ước xác định quân đội Liên Xô vào Trung quốc và Bắc Triều tiên đánh Nhật và giải giáp quân Nhật khi chúng đầu hàng, sau đó 3 tháng sẽ rút về. Trong 2 tuần, quân Liên Xô chiếm đóng toàn bộ vùng Măn Châu, Nội Mông và Bắc Triều tiên. Măn châu là vùng giàu có phát triển nhất, sản xuất 70% về công nghiệp nặng. Riêng ở kho vũ khí Thẩm Dương quân Nhật để lại 10 vạn khẩu súng, nhiều khẩu pháo, quân nhu lương thực hàng chục vạn tấn, tất cả được giao lại lặng lẽ cho quân cộng sản của Mao trong vùng. Các chuyên gia đánh giá số chiến lợi phẩm ở Măn Châu lên đến 850 triệu đôla (bằng 2 tỷ đôla hiện nay).
20 vạn quân Trung hoa ở Măn Châu theo Nhật cũng bị quân Liên Xô bắt giữ, số lớn được ''vận động'' thật ra là bắt buộc tham gia Hồng quân của Mao, ghép vào các quân đoàn Hồng quân và một số địa phương quân.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/1945_chiang-mao.jpg
Mao và Tưởng thoả hiệp (1945)
2-. Mỹ Anh và cả Liên Xô ép Mao hoà giải với Tưởng để duy tŕ hoà b́nh, Mao chống lại rồi đành nhượng bộ. Mao rất ngại ra khỏi sào huyệt của ḿnh v́ luôn sợ bị ám sát. Mỹ cử đại sứ Patrick Hurley đến tận Diên An ngày 28-8-1945 đón Mao đến Trùng Khánh để hội đàm với Tưởng. Cuộc hội đàm kéo dài 45 ngày, Hiệp ước hoà b́nh Quốc - Cộng được kư ngày 10-10-1945. Trong khi họp, quân Mỹ lấy cớ giải giáp quân Nhật chiếm và giao cho quân Tưởng 2 thành phố lớn Bắc Kinh và Thiên Tân. Mỹ cũng giúp việc chuyển quân Tưởng đang tập trung ở phía Nam lên phía Bắc. Cả Mao và Tưởng đều không thật ḷng hoà giải, vẫn quyết sống mái với nhau.
3-. Chiến trường chính là vùng Măn Châu. Mao cử Lâm Bưu chỉ huy vùng Đông Bắc rộng lớn này, đồng thời lập Cục đông Bắc của đảng Cộng sản. Nhưng Hồng quân ở vào thế yếu, không quen đánh tập trung, đánh lớn theo kiểu chính quy, trong khi quân Tưởng được huấn luyện tốt và thiện chiến hơn. Ngày 15-11-1945 tại Sơn Hải Quan, Hồng quân thua nặng, bỏ chạy, để mất nhiều vũ khí.
Nhiều trận đọ sức sau đó, Hồng quân không quen với hỏa lực lớn, đạn pháo dồn dập, không quân Tưởng tham chiến luôn nên thường bỏ chạy, thậm chí đầu hàng, để mất nhiều súng đạn; số bỏ ngũ ngày càng nhiều, có đơn vị mất đến nửa quân số trong 2 tuần. Để t́nh h́nh không xấu đi nhanh, quân Liên Xô phải ở lại quá 3 tháng qui định, đến tháng 5-1946 mới gọi là rút hết, nghĩa là quá thời gian quy định 7 tháng nữa. Từ Moscow, Staline lo lắng, yêu cầu Hồng quân tạm rút khỏi các đô thị, về nông thôn chấn chỉnh và huấn luyện lại, tính chuyện lâu dài, điều Mao đang sốt ruột cứ muốn thắng nhanh, đành phải chấp nhận.
Tướng Đỗ Duật Minh (Tu Yu-ming) của Tưởng từng đánh với quân Nhật nhiều trận lớn, dày dạn kinh nghiệm nay chỉ huy chiến trường Đông Bắc, nhận ra thế Hồng quân nao núng, liền đẩy mạnh tiến công; trong 2 tuần Hồng quân bị đẩy lùi lên phía Bắc và Tây Bắc hướng về biên giới Liên Xô, bỏ lại hầu hết các đô thị, chỉ c̣n Cáp-nhĩ-tân (Harbin), thành phố gần Liên Xô nhất. Lâm Bưu phải than rằng quân ông đang ở trong thế hỗn loạn không c̣n tổ chức và kỷ luật.
Lâm Bưu báo cáo thật với Mao rằng dân t́nh vùng này bất lợi, tỏ ra vẫn trung thành với Tưởng, không ưa nội chiến, c̣n muốn Hồng quân phục tùng chính phủ trung ương... Trong thế bại, ngày 1-6-1945, Lâm Bưu điện gửi Mao xin phép rút khỏi Cáp-nhĩ-tân . Mao lưỡng lự, đề nghị Staline có cách nào can thiệp kiểu cấp cứu, nhưng Staline e ngại phản ứng quốc tế không đáp ứng. Ngày 3-6 Mao cho phép Lâm Bưu rút khỏi Cáp-nhĩ-tân.
Nhưng... Mao, Lâm Bưu và Hồng quân đă được cấp cứu. Ra sao ? bởi ai ?
4-. Người Mỹ, chính phủ Mỹ đă cứu Mao, cứu vô t́nh, một cách gián tiếp.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Marshall-GiangThanh-1946.jpg
Ngoại trưởng Marshall và Giang Thanh tại Diên An (1946)
Tháng 12-1945 tổng thống Mỹ Truman cử tướng George Marshall sang Trung quốc nghiên cứu t́nh h́nh với mục đích ngăn nội chiến. Marshall từng ở Trung quốc nhiều năm, không ưa Tưởng v́ để tham nhũng lan rộng, cho gia đ́nh ông ta và gia đ́nh nhà vợ quá nhiều đặc quyền kinh tế và chính trị. Marshall cả tin lời Chu Ân Lai: '' chúng tôi muốn áp dụng một nền dân chủ kiểu Hoa kỳ !''. Marshall đến Diên An ngày 4 và 5 thấng 3 - 1946, nói chuyện với Mao rồi báo về cho tổng thống Truman rằng: Mao tỏ ra chân thật, muốn hợp tác chặt chẽ với Mỹ; quân vũ trang ở Măn Châu chống Tưởng rất ô hợp, ở ngoài tầm chỉ huy của Diên An (!) . Marshall c̣n gây áp lực với Tưởng buộc phải ngừng việc truy đuổi quân cộng sản khỏi vùng Đông Bắc, nếu không Mỹ sẽ ngừng chi viện và đ́nh chỉ việc chuyển quân Tưởng từ phía Nam lên phía Bắc bằng tàu hải quân của quân đội Mỹ. Marshall cho rằng chỉ có Tưởng là đang vi phạm hiệp ước hoà b́nh Quốc - Cộng.
Thế là Tưởng phải chấp nhận một cuộc ngừng chiến sự 15 ngày, kể từ ngày 5-6-1946. Mao vừa cho phép Lâm Bưu rời bỏ Cáp-nhĩ-tân, vội điện tiếp : Hăy chờ, không rời bỏ Cáp-nhĩ-tân vội.
Cuộc ngừng chiến sự trên thực tế kéo dài đến 4 tháng.
5-. Trong 4 tháng, một căn cứ dài một ngàn kilômet vuông rộng 500 kilômet vuông, có đường xe lửa nối sang Nga liền một dải với Ngoại Mông và Bắc Hàn được củng cố. Lâm Bưu tận dụng thời gian quư này để chấn chỉnh về mọi mặt quân lính, từ tổ chức, huấn luyện, nuôi quân, mở nhiều lóp cho sĩ quan chỉ huy, tham mưu, thực tập về hợp đồng binh chủng, về vận động chiến, về vũ khí hiện đại. Trại huấn luyện chính quy cho pháo binh, công binh, cả cho không quân được mở với chuyên gia Nga và Nhật bản, số sĩ quan Nhật được lựa chọn trong số tù binh làm sĩ quan huấn luyện. Cũng trong 4 tháng này, Liên Xô chuyển đến nhiều trang bị kỹ thuật, vũ khí mới. Liên Xô c̣n giao không ồn ào cho quân của Lâm Bưu 900 máy bay Nhật, 700 xe tăng, 3.700 cỗ pháo, cối và phóng lựu, 12 ngàn súng máy, vài trăm ngàn súng trường, phần lớn thu được từ đội quân Quan đông Nhật bản. Ngoài ra từ Bắc Hàn, Liên Xô chuyển sang hơn 2 ngàn toa xe lửa chở vũ khí và quân cụ từ kho và nhà máy Nhật bản trên đất Bắc Hàn. Lại phải kể đến một số vũ khí Đức thu được từ châu Âu cũng được chuyển đến chiến trường này. Lại cần kể đến mấy ngàn tù binh Nhật do Liên Xô bí mật giao cho Hồng quân của Mao, một số không ít t́nh nguyện ở lại làm huấn luyện viên cho Hồng quân. Vai tṛ họ rất đắc lực trong hướng dẫn dùng, bảo quản và sửa chữa vũ khí hiện đại Nhật bản, .Chính sĩ quan không quân Nhật đó giúp tạo nên ngành không quân trẻ của Hồng quân Trung hoa. Chỉ sau 4 tháng Hồng quân ở vùng Đông Bắc được củng cố rơ rệt, lớn mạnh hẳn lên về mọi mặt, nhờ cuộc ngừng chiến sự kéo dài do tướng Marshall áp đặt.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/LinBiao.jpg
Lâm Bưu
6-. Trần Lập Phu (Chen Li -fu) thân cận với Tưởng nhận xét rất xác đáng rằng: về quân sự đang thắng th́ phải thừa thắng tiến công mạnh lên nữa; cách đánh rồi ngừng, rồi lại đánh, lại ngừng thế này rất tai hại.
Nửa năm sau của năm 1946, nhờ sự tiếp sức cực kỳ hùng hậu của Staline, lặng lẽ vận chuyển vũ khí của Nga, Đức, Nhật theo quy mô cực lớn cho Mao, tận lực giúp Mao nâng cao tổ chức, trang bị, huấn luyện của đạo Hồng quân Đông Bắc của Lâm Bưu, lại được sự hỗ trợ vô giá của Mỹ trói tay trói chân buộc Tưởng bất động khi đang trên thế thắng ở Đông Bắc, so sánh lực lượng cuối năm thay đổi ngược lại trên chiến trường lớn này. Từ những đội du kích theo cách đánh phân tán lẻ nhỏ, trang bị linh tinh, đội quân của Lâm Bưu như có phép lạ trở thành quân đội chính quy hiện đại, quân phục, dày mũ thống nhất, trang bị thống nhất, có doanh trại và thao trường hiện đại do đội quân Quan Đông Nhật để lại nguyên vẹn, có pháo binh dư dật, lấy lại tinh thần, tự tin mở cuộc tiến công mới, chấm dứt thời kỳ ngừng bắn hơn 4 tháng.
7-. Đầu năm 1947, Tưởng lệnh cho tướng Hồ Tông Nam (Hu Tsung-nan) tiến công thẳng vào Diên An thủ đô đỏ của Mao. Hồ từng tốt nghiệp từ Học viện Quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu do các chuyên gia Liên Xô giảng dạy, do Tưởng làm Hiệu trưởng danh dự. Ngày 18 và 19 -3- 1947 Hồ cho đại quân chiếm Diên An, nhưng Mao và toàn bộ lực lượng, tài liệu, của cải đều di chuyển hoặc phá huỷ hết. Hồ được lệnh mở nhiều cuộc hành quân càn quét mở rộng, lan ra khắp tỉnh Thiểm Tây và Tế Xuyên. Điều kỳ lạ là các đội quân của Mao di chuyển loanh quanh 2 tỉnh ấy khi th́ từ chối giáp chiến, khi th́ quay lại phục kích lớn và thường giành thắng lợi. Quân của Hồ quần nhau trong vùng rừng núi hiểm trở bị hao hụt từng mảng lớn và đến gần cuối năm phải rút sang phía duyên hải để củng cố, mất đứt hơn 1/3 lực lượng vốn khá tinh nhuệ. Th́ ra qua so sánh những tài liệu tham mưu hai bên, tướng Hồ chơi tṛ hai mặt, có thể nói là bán ḿnh làm tay trong cho Mao; phía Mao được biết tỉ mỉ trước hầu hết các cuộc hành quân để né tránh các mũi tiến công và khi thuận lợi th́ phục kích hoặc đột kích vào quân của Tưởng. Khi sang Đài Loan, tướng Hồ Tông Nam bị lộ là làm phản, bị truy tố ra toà nhưng Tưởng cho ch́m vụ này, vi e ngại chỉ làm xấu thêm đội quân bại trận. Phía Mao cũng không khai thác chuyện này để tô vẽ thêm tiếng tăm của Hồng quân.
8-. Sang năm 1948, Hồng quân đă có thế và lực vượt trội quân Tưởng, liền mở các chiến dịch đại quy mô kiểu vận động chiến từ vùng đông bắc, chiếm thủ đô Bắc kinh rồi vượt sông Dương tử, thực hiện cuộc Nam hạ trong thế chẻ tre.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/HuTsung-nan.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/WeiLi-huang.jpg
Hồ Tông Nam, Vệ Lập Hoàng (giữa)
Chiến dịch lớn thứ nhất diễn ra trên chiến trường Măn châu nơi 2 năm trước Hồng quân kiệt quệ lùi về phía biên giới Liên Xô. Tưởng giao nhiệm vụ giữ vùng này cho tướng Vệ Lập Hoàng (Wei Li-huang), chỉ huy 55 vạn quân thiện chiến loại nhất. Vệ là tướng lừng danh trên chiến trường chống quân Nhật ở Diến Điện, được báo chí phong là tướng '' Bách chiến bách thắng ''. Vệ được Tưởng chọn c̣n v́ cố vấn Mỹ rất mực ca ngợi Vệ, Tưởng hy vọng do vậy Mỹ sẽ tăng đáng kể cung cấp vũ khí hiện đại nhất. Về sau mới biết Vệ là gián điệp đỏ, luồn sâu leo cao. Được Tưởng giao nhiệm vụ, Vệ báo tin ngay cho đại sứ quán Liên Xô ở Paris (Pháp) và phối hợp chặt với bản doanh của Mao. Nhận chức, Vệ lệnh cho quân lính trở về giữ các thành phố ở Măn Châu, để cho Hồng quân tràn lên khắp nơi và bao vây các đô thị. Tưởng lệnh cho Vệ đánh chiếm thị trấn lớn Tân Châu, nơi hội tụ nhiều đường xe lửa trong vùng Nam Măn châu, lúc ấy chưa có bên nào chiếm hẳn Tân Châu. Điều này tướng Mỹ Barr, tổng cố vấn quân sự Hoa kỳ, cũng nhấn mạnh là cần thiết. Vệ lừng khừng tŕ hoăn thực hiện lệnh này. Lẽ ra phải truất chức Vệ và thay tướng, Tưởng do dự cho đến ngày 15-10-1948 Hồng quân đánh chiếm Tân Châu. Sau trận này, Hồng quân thắt chặt ṿng vây các đô thị rồi lần lượt hạ thành. Ngày 2-11-1948 thành phố lớn nhất Măn Châu là Thẩm Dương bị Hồng quân chiếm. Quân của Lâm Bưu đại thắng làm chủ cả vùng Đông Bắc.
Vệ bị bắt giữ, bị quản thúc. Dư luận đ̣i Tưởng truy tố Vệ ra toà án quân sự, Tưởng vẫn tỏ ra mềm yếu không quyết đoán. Ít lâu sau, Vệ sang ở Hông Công. Sau khi Mao toàn thắng, Vệ gửi thư cho Mao ca ngợi hết lời rồi về sống ở Bắc Kinh từ 1955, âm thầm chết năm 1960.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Hongquantienvaothudo.jpg
Giải phóng quân nhếch nhác tiến vào thủ đô
9-. Sau chiến thắng Đông Bắc, Lâm Bưu có trong tay 1 triệu 30 vạn quân đầy khí thế. Nhiệm vụ tiếp theo của Lâm là tiến đánh 60 vạn quân của tướng Phó Tác Nghĩa (Fu Tso-yi) đang trấn giữ vùng quanh Bắc kinh. Phó nổi tiếng về chiến công lớn năm 1936 tiêu diệt đội quân Măn châu do Nhật dựng lên. Phó trung thành rất mực với Tưởng, nhưng sau trận Vệ thua to, Phó mất tự tin và có lúc Phó nghĩ đến đầu hàng, vào tháng 11-1948. Phó cũng e ngại không muốn Bắc kinh bị tàn phá với biết bao di tích lịch sử và văn hoá vô giá sẽ tan tành. Con gái của Phó lại có cảm t́nh với CS, nhận làm nội gián, thường báo cho phía Mao những tin quân sự mật. Tinh thần Phó giao động mạnh nên cuộc chiến đấu lừng khừng, cầm chừng, thường Phó mặc cho cấp dưới tuỳ ư xoay xở đối phó với mọi t́nh h́nh. Trận đánh chiếm thành phố Thiên Tân lớn thứ 3 của Trung quốc vào ngày 15-1-1949 không gay go ǵ. Ngay sau đó Mao tỏ đồng ư với lời xin đầu hàng của Phó để ngỏ thủ đô Bắc Kinh, kết thúc êm đẹp chiến dịch lớn thứ hai, thường được gọi là Chiến dịch Thiên Tân - Bắc Kinh. Tướng Phó sống ở Bắc kinh cho đến khi chết vào năm 1974.
10-. Chiến dịch lớn thứ 3 diễn ra ở vùng trung tâm rộng lớn của Trung quốc, phía Bắc thành phố Nam Kinh vốn là thủ đô của phe Tưởng, diễn ra từ tháng 11-1948 đến tháng 1-1949, với 1 triệu quân lính của cả 2 bên. Chiến dịch này của Mao cũng thuận lợi do có 2 viên tướng của Tưởng, tuy không ở vị trí chỉ huy cao nhất, nhưng đă là đảng viên cộng sản bí mật, một người từ 10 năm, người kia từ 20 năm trước. Đă vậy trong bộ chỉ huy tối cao của Tưởng có 2 gián điệp cộng sản nằm vùng làm công tác tham mưu. Đó là Lưu Phí (Liu Fei) và Quách Cự Quỳ (Kuo Ju-kui). Họ phác ra mệnh lệnh, kế hoạch tác chiến cho các đơn vị, luôn đặt quân Tưởng trong thế bị động, với những sơ xuất cố t́nh, đồng thời họ sao gửi cho phía cộng sản. Sau chiến dịch này, Quách được cử về chỉ huy quân ở Tế Xuyên, tại đó Quách dẫn hẳn một quân đoàn sang hàng cộng sản.
Ngày 20-4-1949, 1 triệu 20 vạn hồng quân vượt sông Dương tử về phía Nam; 2 ngày sau, Nam Kinh - thủ đô của Tưởng bị chiếm dễ dàng, chấm dứt 22 năm cầm quyền của chính phủ Quốc dân đảng. Ngày mất Nam Kinh (23-4) Tưởng đi máy bay về quê, ngồi lâu bên mộ bà Mẹ, thắp hương, khấn vái, sau đó đến Thượng Hải rồi đi tàu ra Đài loan.
11-. Mấy tháng sau, Mao yêu cầu Staline gửi gấp cho máy bay và tầu ngầm do quân đội Liên Xô điều khiển, tham gia chiến dịch chiếm Đài loan dự trù sẽ diễn ra năm 1950, thậm chí sớm hơn. Mao nhấn mạnh rằng lúc này đang có đà thắng, trong nội bộ quân Tưởng đă trà trộn nhiều t́nh báo, tay trong, cơ sở bí mật của đảng cộng sản, cuộc chiến có nhiều thuận lợi.
Staline dè dặt rồi lắc đầu, cho rằng đưa máy bay, tàu chiến Liên Xô sang tham chiến là quá phiêu lưu, đụng đầu với Mỹ và đồng minh của Mỹ, bất lợi trước dư luận toàn thế giới .
12-. Qua những chuyện chưa biết trên đây về Mao, Jung và Jon có ư nêu bật tính cách trái ngược của hai nhân vật đối lập. Mao thâm độc, tàn ác không tính toán ngần ngại, triệt hạ thẳng tay mọi địch thủ và kẻ có nghi vấn, thà oan c̣n hơn để lọt lưới, không mảy may động ḷng trước đau khổ chết chóc của quần chúng dưới quyền; c̣n Tưởng th́ luôn nặng t́nh cảm, nhẹ lư trí, thường do dự khi cần trừng trị người vốn theo ḿnh, quư trọng ḍng họ, lễ nghi, yêu thương bố mẹ vợ con rất mực.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:19 PM
VIII - Mao trong cuộc chiến tranh Triều Tiên
1-.Chiến tranh Triều Tiên nổ ra ngày 25-6-1950, hơn nửa năm sau khi Mao đă chiếm xong toàn Trung Quốc. Đầu năm 1948 chính quyền Kim Nhật Thành được Liên Xô dựng lên ở miền Bắc vĩ tuyến 38°, ở miền Nam là chính quyền Lư Thừa Văn do Mỹ hỗ trợ.
Từ đầu năm 1960 Staline, Mao và Kim Nhật Thành bàn bạc kỹ với nhau và chuẩn bị cho cuộc chiến tranh này, cuộc xung đột quân sự lớn sau chiến tranh thế giới II.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Mao-Stalin.jpg
Mao tại buổi sinh nhật thứ 70 của Stalin
Staline cho rằng đây là một cuộc thăm ḍ thái độ của Mỹ và phương Tây, nắn gân nắn cốt xem họ đối phó ra sao, v́ Xít đă có dự kiến trong đầu là khi thuận lợi có thể xuất quân chiếm Tây Đức, Ư và Tây Ban Nha ở châu Âu. Xít cũng cần một chiến trường để thử những vũ khí vừa được cải tiến.
Kim mong chiếm cả nước Triều Tiên dựa vào hai nước CS đàn anh hùng mạnh, sau khi quân Mỹ vào Nam Triều Tiên để giải giáp quân Nhật đă rút hết về nước, chỉ để lại một số cố vấn quân sự.
Mao muốn chiến tranh ở Triều Tiên để bành trướng thế lực CS ở châu Á, nơi mà Quốc tế CS phân công cho Mao đảm nhiệm sự lănh đạo. Hơn nữa Mao muốn qua cuộc chiến tranh này thăm ḍ phản ứng của Mỹ và thế giới để hoạch định cuộc chiến giải phóng Đài loan.
Mao c̣n nuôi dưỡng một ư đồ kín đáo là qua cuộc chiến sẽ đ̣i Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc ngày càng nhiều vũ khí hiện đại với quy mô lớn, và nhất là viện trợ quân sự lớn để xây dựng gấp nền công nghiệp quốc pḥng hiện đại hiện đang c̣n quá yếu kém lạc hậu. Đây là mưu đồ xuyên suốt thời gian cuộc chiến.
2-. Ngay sau khi chiến tranh bùng nổ, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ra nghị quyết cử quân đội của LHQ vào tham chiến bên cạnh quân Nam Triều Tiên. Lẽ ra đại diện Liên Xô là Yakov Malik có thể bỏ phiếu bác bỏ (veto) nghị quyết ấy, nhưng Staline chỉ thị là cho qua. Staline và Mao đều nghĩ quân Liên Hợp Quốc chủ yếu là quân Mỹ; chiến tranh sẽ có thể là cỗ máy nghiền nát ngày càng nhiều quân Mỹ, là điều mà phía Mỹ, dư luận Mỹ khó có thể chấp nhận. Ngày 1-7-1950 Mao cử Chu Ân Lai nói với đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh rằng: Mỹ có thể cử từ 30 đến 40 sư đoàn sang Triều Tiên th́ quân Trung Quốc sẽ tham chiến để nghiền nát. Trong vài năm chúng ta có thể tiêu diệt hàng trăm ngh́n quân Mỹ.
3-. Hơn 1 tháng sau khi khởi đầu, quân Bắc Triều Tiên chiếm đến 90% miền Nam; ngày 15-9-1950 quân Mỹ đổ bộ lên cảng Inchon gần Séoul, cắt đường rút lui của quân miền Bắc, c̣n chuẩn bị đánh chiếm miền Bắc. Ngày 29-9, Kim Nhật Thành phát hoảng gửi điện cầu cứu Staline và Mao.
Phía Trung Cộng, trừ Mao ra, không mấy người trong bộ chính trị tán thành tham chiến. Trong cuộc họp đầu tháng 10 của bộ chính trị, Lưu Thiếu Kỳ - nhân vật số 2, Chu Đức tư lệnh Hồng quân và Lâm Bưu đều tỏ ra e ngại. Họ viện lẽ Mỹ có ưu thế tuyệt đối về không quân, về pháo binh tỉ lệ so sánh là 1/40, Mỹ có thể ném bom các thành phố lớn, các cơ sở công nghiệp của Trung Quốc; Mỹ c̣n có thể dùng đến bom nguyên tử.
Mao mất ngủ v́ lo nghĩ nhưng cuối cùng vẫn cho rằng thế giới ở vào thời b́nh rồi, khả năng dùng bom nguyên tử là thấp, không quân Liên Xô có thể bảo vệ các đô thị Trung Quốc. Mao dự tính số quân ḿnh có thể bị hy sinh nhiều nhưng không đáng ngại. Quân gọi là ''t́nh nguyện '' sẽ chủ yếu là quân của Tưởng bị bắt làm tù binh hàng mấy triệu, khá thiện chiến, chưa biết dùng làm ǵ (!), nay tổ chức lại do Hồng quân chỉ huy, có chết bao nhiêu cũng không đáng tiếc.
4-. Sáng sớm ngày 3-10 Mao cử Chu Ân Lai đến gặp đại sứ Ấn độ bắn tin rằng Trong quốc sẽ chỉ tham chiến nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38, ngụ ư yêu cầu trở lại t́nh h́nh trước chiến tranh; như vậy để khi tham chiến Trung Quốc có cớ là dùng quyền tự vệ chính đáng.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/korea-27-th.jpg
Mao, Chu Ân Lai và Lâm Bưu trong chiến tranh Triều Tiên
5-. Mao cử Chu Ân Lai và Lâm Bưu sang Nga gặp Staline để xin vũ khí gấp, Staline chấp nhận gửi ngay sang nhiều vũ khí quân dụng máy bay, pháo, xe tăng, quân cụ quân dụng cùng với những cơ sở công nghiệp quốc pḥng. Chỉ riêng yêu cầu một sư đoàn không quân tiêm kích gồm 124 phi đội do quân đội Liên Xô đảm nhận để bảo vệ quân Trung Quốc tại chiến trường th́ Staline do dự rồi từ chối. Chu Ân Lai và Lâm Bưu thất vọng về điều này v́ biết rằng không có không quân Liên Xô bảo vệ ắt rằng quân Trung Quốc sẽ bị thương vong lớn. Mao suy nghĩ vài ngày, rồi quyết định lao vào cuộc chiến với tham vọng lớn là qua chiến tranh đưa Trung Quốc của Mao lên vị trí cao, cao hơn nữa. Mao dựa vào số quân đông gần như vô tận để ném vào cuộc chiến dù cho ác liệt đến mấy. Ngày 19-10 quân ''t́nh nguyện '' Trung Quốc vượt biên giới sông Áp Lục. Quân Bắc Triều Tiên tan tác chỉ c̣n hơn 7 vạn quân bị quân Mỹ đẩy lùi lên phía Bắc được cứu. Quân Mỹ đến lượt bị đánh mạnh phải lùi nhanh về vĩ tuyến 38.
6-. Nguyên soái Bành Đức Hoài tư lệnh 45 vạn chí nguyện quân muốn dừng lại ở vĩ tuyến 38. Bành báo cáo rằng đường tiếp tế quá dài bị máy bay Mỹ bắn phá không ngơi, quân lính kiệt quệ không c̣n sức. Đường xe lửa độc đạo cứ sửa xong là bị đánh lại ngay. Ngày 13-12 vào mùa đông Mao ra lệnh cho Bành vượt qua vĩ tuyến 38. Bành cho quân chiếm Séoul thủ đô Nam Triều Tiên, chiếm vùng cách vĩ tuyến 38 chừng 1 trăm kilômét. Tuy thắng, quân của Bành phải trả giá quá đắt, chết la liệt v́ bom đạn, v́ cóng lạnh khi nhiệt độ xuống âm 30°. Ngày 25-1-1951 quân Mỹ phản công quyết liệt, quân Bành thêm nguy khốn. Bành phải về Bắc Kinh gấp ngày 21-2 xin chỉ thị. Mao lạnh lùng nghe rồi phán: chiến tranh này phải lâu dài, không thể kết thúc nhanh.
Ngày 1-3 Mao gửi thư dài cho Staline, cho biết quân Trung Quốc đă thương vong 10 vạn (gần 1/4 quân số) và có thể mất đến 30 vạn năm nay và năm sau. Nhưng đă có sẵn 12 vạn quân sắp ra trận và có thể huy động 30 vạn nữa; chiến trận này có thể diệt vài chục vạn sinh mạng Mỹ để buộc chúng từ bỏ cuộc chiến trong thất bại. Mao chỉ yêu cầu Staline gửi gấp thêm vũ khí, thiết bị công nghiệp quốc pḥng và giúp xây dựng gấp không quân và hải quân thật lớn và hiện đại. Staline giúp ngay những xưởng sửa chữa máy bay dă chiến sát biên giới Trung - Triều, cả những thiết bị để Bắc kinh tự chế tạo máy bay chiến đấu. Từ đó Trung Quốc có thể sản xuất 3.600 máy bay tiêm kích hàng năm. Mao c̣n nài Staline thoả thuận trang bị đầy đủ gấp cho 60 sư đoàn bộ binh.
7-. Trong khi Mao một mực muốn kéo dài chiến tranh theo tính toán riêng th́ Kim Nhật Thành kinh hoàng thấy đất nước tan nát dưới bom đạn và chỉ muốn ngừng chiến. Ngày 3-6-1951 Kim bí mật sang Bắc Kinh gặp Mao nhằm bàn một cuộc ngừng bắn với phía Mỹ. Dù Mao vẫn muốn tiếp tục chiến tranh, một cuộc ngừng bắn có thể có lợi để xả hơi, chấn chỉnh bộ đội sau một năm chiến đấu ác liệt. Thế là ngày 10-7-1951, cuộc đàm phán quân sự giữa phía Mỹ và phía Trung-Triều bắt đầu. Tại cuộc đàm phán, vấn đề trao trả tù binh trở thành gay go. Phía Mỹ có trong tay 2 vạn tù và hàng binh. Phía Mỹ yêu cầu trao trả theo nguyên tắc tự nguyện. Phần lớn số tù hàng binh trên đây vốn là quân Quốc Dân Đảng của Tưởng không có nguyện vọng về nước. Mao chỉ thị cho đoàn đàm phán của ḿnh: ''phải đ̣i về bằng hết; không một tên tù hàng binh nào thoát khỏi tay chúng ta''. Kim sốt ruột cho rằng: ai không muốn trở về cũng không sao, c̣n tốt nữa, ta khỏi phải nhận họ về, thêm bận tâm. Phía Mỹ giữ vững nguyên tắc tự nguyện. Thật ra Mao chỉ dùng vấn đề tù binh để nhằm kéo dài chiến tranh, để moi móc thêm tối đa từ Staline, Mao không mảy may quan tâm đến hàng chục vạn quân và dân Triều Tiên cũng như hàng chục vạn ''chí nguyện quân Trung Quốc'' phải chết thêm, cũng như không mảy may động ḷng trước cảnh tàn phá ghê gớm trên đất Triều Tiên. Cuộc đàm phán ngừng v́ bế tắc trong vấn đề tù binh do sự độc đoán lạnh lùng của Mao.
8-. Sang tháng 2-1953, tổng thống Mỹ mới trúng cử Eisenhower trong diễn văn mở đầu nhiệm kỳ ngỏ ư khả năng Mỹ dùng bom nguyên tử chống Trung Quốc. Mao không mấy bận tâm lời doạ này, c̣n coi đây là dịp tốt để nài Staline giúp Trung Quốc sản xuất bom nguyên tử. Tháng 8-1949, Liên Xô đă thử thành công bom nguyên tử. Mao liền cử chuyên gia nguyên tử giỏi nhất của ḿnh là Tiền Tham Tường (Qian San-qiang) sang Liên Xô. Staline chưa muốn chuyển giao bí mật nguyên tử cho Mao, nhưng tuyên bố của Eisenhower làm Staline lo nghĩ rất nhiều.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/korea-52-th.jpg
Tù binh Trung Hoa tại gần Hwachon (miền trung Triều Tiên)
9-. Trong cuốn sách của ḿnh, Jung và Jon đặt ra một nghi vấn: phải chăng lời doạ của Eisenhower và yêu sách của Mao về bom nguyên tử trong tháng 2-1953 đă có tác động trên một mức nào đó đến cái chết đột ngột của Staline vào đêm 5-3-1953 ? Theo tướng Dmitri Volkogonov kể lại là ông từng khai thác kỹ những hồ sơ siêu mật của đảng Cộng sản Liên Xô, những ngày ấy Staline rất lo nghĩ, mất ngủ liên miên. Staline nghĩ nhiều đến bom nguyên tử, đến Mao, con người và tham vọng của Mao, c̣n nhắc đến Tito, tiếc rằng không giữ được Nam tư và Tito trong khối CS; Staline từng hoài nghi về Mao, coi Mao là một Tito ở châu Á. Ngày 28-2 Staline quyết định chấm dứt chiến tranh Triều Tiên và báo rằng ông sẽ hành động ngay ngày mai. Ngay đêm ấy ông bị đứt mạch máu năo dẫn đến hôn mê rồi chết 5 ngày sau.
10-. Những người thay Staline muốn hoà dịu ngay với Mỹ và phương Tây. Hiệp định đ́nh chiến ở Triều Tiên được kư ngày 27-7-1953, chấm dứt 3 năm chiến tranh khốc liệt. Miền Bắc 2 triệu rưỡi, miền Nam 1 triệu người chết, cả quân đội và nhân dân. Phía quân Trung Quốc, con số ''chính thức'' là hơn 15 vạn, nhưng có lần Đặng Tiểu B́nh tiết lộ là 40 vạn.
11-. Jung và Jon nói lên một vấn đề ít ai biết là tuy Trung Quốc huênh hoang về sự nghiệp ''Kháng Mỹ viện Triều'', nhưng chính nhân dân Triều Tiên và cả Kim Nhật Thành đều tỏ ra cay đắng về thái độ độc đoán của Mao, nên đài kỷ niệm chí nguyện quân Trung Quốc ở B́nh Nhưỡng không được quư trọng c̣n vấp phải sự dửng dưng của quần chúng.
12-. Về trao đổi tù binh, cuối cùng Mao phải nhượng bộ, chấp nhận nguyên tắc tự nguyện sau 3 năm chiến tranh.
Trong 21.374 tù binh Trung Quốc do phía Mỹ giữ, hơn 2 phần 3, có nghĩa là hơn 14.000 không muốn trở về với cộng sản, họ ở lại Nam Triều Tiên hoặc sang Đài loan và hầu hết được sống b́nh thường. C̣n chừng 7.000 người trở về đều bị coi là phản bội, bị đủ thứ hành hạ bi đát. Phía Mao c̣n gian dối giữ lại 6 vạn tù binh Nam Triều Tiên giao lại cho Kim Nhật Thành, không biết số phận họ ra sao trong một chế độ kín mít.
Về tù binh phía Trung Quốc và Bắc Triều Tiên giam giữ có 21 người Mỹ và 1 người Ê-cốt tự nguyện ở lại, họ sớm vỡ mộng và cuối cùng t́m mọi cách để trở về nước họ tuy có nhiều khó khăn.
12-. Mao cảm thấy hài ḷng nhất về cuộc chiến tranh Triều Tiên là được Staline viện trợ cho một khối lượng vũ khí hiện đại nhất và theo quy mô lớn nhất, làm cho lực lượng quân sự Trung Quốc có bước đột biến: bên cạnh 60 sư đoàn Bộ binh được trang bị hoàn toàn mới như những sư đoàn bộ binh của Liên Xô, hải quân và không quân của Trung Quốc cũng có bước đột biến lớn. Sau chiến tranh, không quân Trung hoa có 3 ngàn máy bay tiêm kích phản lực, c̣n tự sản xuất mỗi năm 3 ngàn 6 trăm máy bay nữa. Không quân Trung Quốc vượt lên là không quân lớn thứ 3 của thế giới, chỉ sau Mỹ và Liên Xô. Mao cũng cố nài Staline xây dựng 91 nhà máy quốc pḥng hiện đại để tự sản xuất tên lứa, xe tăng, xe bọc thép...
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/korea-74-th.jpg
Bành Đức Hoài kư kết thoả ước đ́nh chiến
13-. Sau khi Staline chết, Mao vẫn t́m cách kể công với Khrouchtchev về đóng góp của Trung Quốc trong chiến tranh Triều Tiên để đ̣i thêm viện trợ, đưa số nhà máy quốc pḥng từ Liên Xô chuyển sang từ 91 lên đến 141, sau đó c̣n cố nài thêm 15 nhà máy quốc pḥng nữa, khi Khrouchtchev sang Bắc kinh dự kỷ niệm quốc khánh Trung Quốc 1 tháng 10-1954. Dịp này Mao được Liên Xô cho vay thêm 520 triệu đôla với điều kiện rộng răi.
Chính trong dịp này, Mao được Khrouchtchev cam kết viện trợ khoa học kỹ thuật để tự sản xuất được bom nguyên tử.
14-. Khrouchtchev đă nghe lời tán tỉnh của Mao và gửi ngay từ 1957 nhà bác học nguyên tử Yevgeni Vorobyov sang giúp Mao điều hành việc sản xuất bom nguyên tử; nhà bác học này đă đào tào gấp cho Trung Quốc 6 ngàn chuyên gia kỹ thuật về bom A (trước đó chỉ có 60 người). Mục tiêu của Mao trở thành cường quốc quân sự có bom A được hoàn thành ngày 16-10-1964, khi bom A Trung Quốc nổ ở Lop Nor trên sa mạc Gobi. Cả Trung Quốc mở hội mừng với hát múa ồn ào náo động để ca ngợi Mao.
Ngay trước và sau đó mâu thuẫn và xung đột Trung - Xô nổ ra quyết liệt, Bắc Kinh không nói ǵ nhiều đến sự đóng góp của Liên Xô trong trái bom A Trung Quốc. Có thể nói về mặt khoa học kỹ thuật, đó là bom A của Liên Xô sản xuất trên đất Trung Hoa. Nhưng chi phí th́ thật sự là do nhân Trung Quốc gánh chịu, lên đến 4 tỉ 100 triệu đôla, theo giá năm 1957.
15-. Với chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến tranh nóng lớn nhất giữa 2 siêu cường châu Á và châu Mỹ, với hy sinh gần 4 triệu sinh mạng, Mao là một trong những người đề xướng mạnh mẽ nhất, Mao cũng là người quyết định nhất trong thời gian chiến tranh kéo dài hơn 3 năm. Kẻ kiếm lợi riêng nhiều nhất, có tính toán nhất cũng là Mao, thanh thế và thực lực chính trị, quân sự, ngoại giao của Trung Quốc của Mao nổi bật hẳn lên. Từ đó tham vọng của Hoàng đế Cộng sản phương Đông này cũng tăng theo, Jung và Jon sẽ cho ta thấy rơ tham vọng ấy trong những phần sau.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:21 PM
IX - Mao trong bước nhảy vọt lớn
1-. Bước nhảy vọt lớn là một sáng kiến ''đặc sắc'' của Mao diễn ra trong 4 năm từ tháng 5-1958. Nó là con đẻ chính của ''tư tưởng Mao Trạch Đông'' nếu như Mao thật sự có tư tưởng riêng của ḿnh.
Nhiều sách báo đă nói về bước nhảy vọt này. Jung và Jon cất công đi t́m hàng nǵn tài liệu mới và hằng trăm người c̣n sống để nói rơ nhưng điều đến nay ít ai biết.
2-. Trước hết cần mở đầu với chủ trương ''Trăm hoa đua nở'', thực hiện từ năm 1957 sau khi Đại hội 20 của Đảng CS Liên Xô (tháng 2-1956) lên án Staline về tệ sùng bái cá nhân. Mao cảm thấy bị đụng chạm, ở thế nguy hiểm v́ tệ sùng bái Mao xem ra không kém ǵ tệ sùng bái Staline. Tiếp theo những sự kiện nổi dậy ở Hung và Tiệp là những báo hiệu không tốt lành. Mao cho rằng sở dĩ các nơi đó để nổ ra cuộc đấu tranh đ̣i tự do dân chủ là lănh đạo đă mềm yếu, thả lỏng sự đàn áp. Mao nghĩ ra một diệu kế: dử cho mọi người nói hết sự bực bội với lănh đạo, sau đó sẽ trấn áp khi họ đă lộ mặt. Mao thích thú giảng giải trong lănh đạo: ta có cần câu dài, phen này sẽ bắt cá lớn.
3-. Ngày 27-2-1957 Mao đọc diễn văn dài 4 tiếng, trịnh trọng mời nhân dân phê b́nh đảng CS, theo khẩu hiệu: Trăm hoa đua nở. Trong nội bộ đảng, Mao chỉ thị: hăy kiên nhẫn chịu trận, hăy để cho những con ''ḅ điên'' và lũ ''rắn'' độc hiện nguyên h́nh. Quần chúng ngây thỏ nhẹ dạ, nhất là trong giới văn học nghệ thuật, tuổi trẻ mắc bẫy. Báo tay, báo tường mọc như nấm suốt trong 4 tháng. Họ lên án chế độ độc đoán, bất công, tệ quan liêu xa hoa cửa quyền, không có luật pháp nghiêm.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/TQvuotUSveluami.jpg
Bội thu, vượt năng suất lúa của Mỹ!
Ngày 6-6 Mao ra tay. Nhân danh bảo vệ đảng - một tập thể thiêng liêng không ai được đụng đến, Mao tuyên bố thẳng tay thanh trừng mọi phần tử hữu khuynh, chống đảng, ước chừng nửa triệu người. Cuộc săn t́m và thanh trừng đẫm máu diễn ra khắp nơi; riêng ở tỉnh Hồ Nam 10 vạn người bị tố cáo, 1 vạn người bị bắt, tra tấn, và 1 ngàn người bị giết. Những tên ''hữu phái'' đều bị đưa ra đấu tố, kết tội, đưa đi làm khổ sai vùng Tây và Tây Bắc để đền tội.
Sang năm 1958, Mao chĩa mũi nhọn phê phán vào hàng ngũ cao nhất của đảng và nhà nước, vào 2 nhân vật số 1 và số 2 : chủ tịch Nước Lưu Thiếu Kỳ và Thủ tướng Chu Ân Lai. Mao nghĩ rằng nhân vật số 1 và số 2 mà c̣n bị đấu tố th́ c̣n có ai có quyền lực dám chống lại Mao. Chu bị Mao lên án đă quản lư kém nền kinh tế, cắt bỏ ngân sách, làm chậm trễ công nghiệp quốc pḥng. Ngay sau đó một bộ trưởng của Chu là Hoàng Kính (Huang Jing) - chồng cũ của Giang Thanh, vợ Mao - do sợ hăi bị bệnh tâm thần, khi gặp bác sĩ là cúi đầu van xin: ''hăy thương tôi! hăy tha tội cho tôi!''. Mao buộc Thủ tướng Chu Ân Lai kiểm thảo trước 1300 cán bộ cao cấp về tội có ư định tŕ hoăn tốc độ công nghiệp hoá do Mao đề xuất. Tại cuộc họp này, Lưu Thiếu Kỳ cũng phải kiểm thảo về tội cắt giảm ngân sách trái với ư muốn của Mao và xin nhận tội.
3-. Tháng 12-1953, Mao tṛn 60 tuổi. Tuy c̣n khoẻ, Mao nghĩ đến cái chết đến dần. Mao ngày càng tỏ ra sốt ruột. Tham vọng cao nhất của Mao là sớm đưa Trung quốc nhập vào ''Câu lạc bộ các siêu cường'' và sau đó trở thành siêu cường số 1 của thế giới.
Sau cuộc thanh trừng kết thúc trăm hoa đua nở, Mao đinh ninh không c̣n ai dám cản trở ḿnh, liền lao vào cuộc ''Nhảy vọt lớn''. Năm 1953, Mao đề xuất chương tŕnh Công nghiệp hoá sẽ hoàn thành trong 10 đến 15 năm, sẽ lần lượt đuổi kịp và vượt các nước tư bản phát triển, trở thành nước giàu nhất, mạnh nhất. Năm 1958 Mao đề ra việc công nghiệp hoá phải thực hiện trong ṿng 7, 8 năm, thậm chí 5 năm. Việc lập Công xă nhân dân quy mô một xă được thực hiện, với những ''công xă vệ tinh'' có công xuất tăng nhanh như vệ tinh. Mao dùng Nhân Dân Nhật báo loan tin một công xă ở Hồ Nam có năng suất lúa 1 tấn 8 trên một mẫu (chừng 666 mét vuông), gấp gần 10 lần so với trước. Theo phóng đại của báo chí, ruộng năng suất cao, ''công xă vệ tinh'' ngày càng nhiều, luôn lập kỷ lục mới, có nơi lúa cao sản chen sát nhau để các đội văn công có thể đi lại nhảy múa trên ruộng lúa ! Báo cũng đưa tin một nơi năng suất lúa đạt 70 tấn trên 1 ngàn mét vuông, nghĩa là gấp trăm lần trước đó. Mao tuyên bố rồi lương thực sẽ dư thừa, làm ruộng nhàn hạ như làm vườn, như trồng hoa.
Do tin lúa cao sản rộng khắp, việc thu thuế bằng lương thực tăng theo, thế là trên thực tế nông dân nộp hết sản lượng cũng không đủ, c̣n ǵ để ăn! Cán bộ dưới bị trên ép, trừng phạt dân bằng bạo lực, đói kém lan nhanh và đến 1960-61 th́ chết đói hàng loạt ngày càng rộng.
4-. Thế rồi Mao bỗng nghĩ ra sáng kiến diệt chim sẻ để tăng năng suất. Mọi người t́m mọi phương tiện gây tiếng động, từ trống chiêng, phèng la, kèn c̣i, mơ... để chim sẻ không có chỗ đậu, mỏi cánh rơi để bị giết. Tám tháng sau cái tṛ này chấm dứt và phải xin Liên Xô viện trợ cho 20 vạn chim sẻ gây lại giống v́ không có chim sẻ bắt sâu, lúa bị giảm.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Nhandan-conso.jpg
Nông dân công xă mang số như tù!
5-. Cuối 1958 Mao lại sáng kiến ra lập ḷ cao luyện sắt thép ở sân nhà nông dân. Thế là hơn 1 triệu ḷ cao được dựng lên khắp nơi, với mục đích tăng ngay gấp đôi sản lượng gang thép. Già trẻ lớn bé đi sưu tầm ''quặng'' từ đinh vít, dao, búa, đến bản lề, cuốc, xẻng, cả kẹp tóc, kim khâu, với khẩu hiệu: một cục sắt là một tên đế quốc bị tiêu diệt, để lọt một cái đinh là lọt một tên hữu phái ! Không có đủ than, thế là cột nhà, mái rạ, cây cối trong vườn ngoài rừng ra tro hết. Để thu được hơn 10 triệu tấn, gần một nửa là vô dụng v́ kém phẩm chất, chỉ là sắt thô. Mao ném vào sự nghiệp phiêu lưu này 10 tỉ ngày công của nông dân để chỉ thu lấy sự tự tàn phá môi trường và của cải, công sức xă hội.
6-.Do những tư tưởng cổ hủ, tối tăm kiểu nông dân thất học như trên nên nạn đói kéo dài từ 1958 đến năm 1961, kinh khủng nhất là năm 1960, và theo sưu tầm có ít nhất 63 trường hợp ăn thịt người. Nhiều nơi người dân sống dưới mức sống tối thiểu, chỉ có 1.200 calo/ngày, trong khi ở các trại khổ sai phát xít ở Đức c̣n được hơn 1.500 calo. Tính chung theo thống kê chưa đầy đủ đă có ít nhất 36 triệu dân Trung quốc là nạn nhân của nạn đói kinh khủng thời kỳ Đại nhảy vọt mà ít người biết đến sau bức màn tre bịt kín. Ngay trong nước người dân không được đi lại trên nước ḿnh do chế độ hộ khẩu nghiêm ngặt và bị ràng buộc bởi chế độ lương thực và thực phẩm theo tem phiếu.
7-. Trước đói khổ cực nhục và thanh trừng đẫm máu do Mao gây nên cho toàn dân Trung quốc, lúc ấy nổi lên một khí phách và nhân cách khác thường : Bành Đức Hoài. Phần trên đă nói chút ít về Bành, một nguyên soái xuất thân từ cố nông, mẹ và em đi ăn mày. Bành có nghị lực, có tấm ḷng thương người, khẳng khái chống mọi bất công. Bành đă chống Mao từ khi ở căn cứ Giang Tô khi Mao sống ích kỷ, kéo bè phái trong số chỉ huy Hồng quân, hoặc trên đường trường chinh Mao hành hạ quân lính buộc phải đi loanh quanh để đối phó với Trương Quốc Đào, hay khi ở Diên An, Mao thanh trừng tàn bạo, sống sa hoa buông tuồng với phụ nữ; Bành chống việc Mao buộc mọi người hát ''Đông phương hồng'' và hô ''Mao chủ tịch vạn tuế ''. Nhiều lần Bành yêu cầu giảm chi phí quân sự đè nặng vai người dân. Bành luôn có tư duy độc lập hiếm có.
Với Bành, không được làm với người khác những điều ḿnh không muốn người khác làm với ta. Mao nói ngược lại: ''nguyên tắc của ta là làm cho ngưới khác những ǵ ta không muốn họ làm với ta''. Mao ghét và thù Bành.
Tháng 5-1958 bước vào Đại nhảy vọt, Mao bắt Bành cùng 1500 sĩ quan cao cấp phải kiểm điểm và tố cáo lẫn nhau. Sau đó Mao chỉ định Lâm Bưu - luôn là thuộc cấp của Bành - lên là một trong 5 phó chủ tịch Đảng, đứng trên Bành.
Ngày 2-7-1959 Mao triệu tập cuộc họp lớn ở Lư Sơn, bên sông Dương Tử, có mặt hơn 1 trăm nhân vật cao nhất của đảng. Mao chia số đại biểu thành 6 nhóm do một người tin cẩn của Mao cầm đầu mỗi nhóm. Trong nhóm Đông bắc, Bành phát biểu ngay thật ư kiến của ḿnh. Bành chỉ rơ những con số đưa ra về thành tựu nông nghiệp là sai, ngay ở Hồ Nam cũng sai nhiều so với sự thật. Hôm sau Bành lại nói đến trách nhiệm của Mao trong việc luyện thép các ḷ cao. Bành cũng nói đến những nhà ở và cách sống xa hoa, buông thả của Mao và nhận xét: không nên lạm dụng uy tín cá nhân... Bành c̣n viết thư góp ư rất thận trọng với Mao về những thiếu sót trong Đại nhảy vọt với hy vọng sẽ có cuộc thảo luận ngay thật.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/BanhDucHoai-1968.jpg
Bành Đức Hoài bị quy tội hữu khuynh!
Mao theo dơi rất kỹ ''con mồi'' của ḿnh, để yên chí rằng Bành chỉ có một ḿnh, không có mưu đồ chung ǵ với một ai khác. Mao sao bức thư của Bành để gửi mọi người dự và bắt đầu phản công. Ngày 23-7, Mao khôn khéo nhỏ nhẹ, y như nay Mao mới được nói và là một nạn nhân oan ức: ''nay cho tôi được phép nói 1, 2 tiếng, tối qua tôi uống 3 lần thuốc ngủ mà không sao chợp mắt !''.
Mao nói: '' Vấn đề tưởng ǵ, hoá ra là thiếu miếng thịt lợn, thiếu vài cái kẹp tóc, và lúc nào đó không có xà pḥng ...''; ''nếu người ta chống lại kế hoạch nông thôn th́ tôi sẽ lănh đạo nông dân chống trả''; ''nếu quân đội không theo ta th́ ta lên núi đánh du kích, nhưng ta biết quân đội theo ta''. Cả cuộc họp bàng hoàng; im phăng phắc. Mao cho mọi người hiểu, phải chọn: Bành hay là Mao, và ai mà theo Bành th́ Mao sẽ chống trả cho đến chết.
Ngay sau đó Mao gọi Lâm Bưu đến. Lâm Bưu phê phán Bành nặng nề và ủng hộ Mao không điều kiện. Không một ai ho he dám đụng đến Mao nữa. Mao liền biến cuộc họp thành Hội nghị trung ương đảng, với quyết nghị thi hành kỷ luật với nhóm phái hữu gồm: Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành, Lạc Phủ, Lư Nhuệ (Li Rui); Lư từng là bí thư riêng của Mao. Nghị quyết được thông qua không có biểu quyết. Bành bị tù từ đó cho đến chết năm 1976. Lâm Bưu được Mao thưởng cho chức Bộ trưởng quốc pḥng thay cho Bành và về sau c̣n được phong làm nhân vật số 2. Số phận tướng Bành Đức Hoài trở nên bi đát. Ông bị quản chế ở một vùng núi Tứ Xuyên từ 1957. Năm 1961 ông được về thăm quê ở Hồ Nam. Bà con kéo cả ngàn người đến thăm cám ơn ông đă thương cảm và dám nói lên sự thật. Năm 1966 Mao cử một viên tướng đi giải ông về Bắc Kinh để giam giữ th́ viên tướng này lại cảm phục Bành đến độ xin giải tội cho Bành. Mao bỏ tù luôn viên tướng này. Có kẻ từng đối xử tàn ác với Bành lên tiếng xin ông tha lỗi. Về Bắc Kinh, Bành lại bị Mao cho tay chân hành hạ, đánh đập bằng gậy, đi giầy da đá và đạp, làm gẫy 2 xương sườn và ngất xỉu. Ông bị hỏi cung thêm 260 lần v́ bị Mao nghi là có âm mưu cùng ''bọn xét lại ở Moscow''. Ông bị giam riêng, có lúc như mất trí, nhưng ư chí nguyên vẹn, tháng 9-1970 c̣n viết lời cuối: ''Tôi ngẩng cao đầu và nói lớn trăm lần là lương tâm tôi thanh thản''. Do thể chất vốn cường tráng, Bành tuy bị ung thư ruột và đủ thứ tra tấn, vẫn sống dai 15 năm trong tù. Khi chết, ông được chôn theo một bí danh. Sau khi Mao chết, ngày chết của ông mới được biết là 29/11/1974, thọ 76 tuổi, từ đó cháu chắt mới biết ngày giỗ.
8-. Trở lại Lư Sơn tháng 7-1959, dân đang cực kỳ đói kém, Mao vừa trừ khử được Bành, một kẻ dám lên án và phê phán ḿnh, tuy là sự phê phán c̣n nhẹ nhàng, xa xôi. Mao tỏ ra rất cao tay trong nghệ thuật chính trị để thoát hiểm. Lư Sơn liền mở hội. Nơi đây vốn là nhà nghỉ mùa hè của tổng thống Tưởng Giới Thạch. Khi Mao đến nghỉ, không một xe cộ nào được đến gần nơi đây. Trâu ḅ cho đến chó mèo và cả ếch nhái cũng bị săn đuổi đi hết. Và Mao sống ở dưới hầm sâu, có mái xi-măng, bê tông cốt thép có khả năng chống bom nguyên tử. Trong cơn vui, Mao cho các quan chức dự họp đưa vợ con đến; ăn uống xa hoa, linh đ́nh, những sơn hào hải vị, mỗi bữa ăn có 12 món khác nhau. Mao đích thân chọn các đoàn ca kịch và diễn viên ca hát múa đến phục vụ. Mao c̣n cho gọi đến một số vũ nữ trẻ. C̣n được biết Mao cho gọi một vũ nữ và một nữ y tá trẻ ở địa phương đến ''gặp nói chuyện riêng''. Nơi nào Mao ở cũng có các pḥng riêng thiết kế đặc biệt, có xa lông, giường rộng, gương xung quanh, màn che phủ kín, để tiếng động không lọt ra ngoài và không có con mắt nào lọt vào được, để ''bí mật quốc gia của lănh tụ'' không mảy may bị tiết lộ.
9-.Nhân dịp về Lư Sơn họp, Mao cũng ghé qua làng quê của ḿnh ở xă Thiều Sơn, Hồ Nam Những ngày tháng 6-1959 này, 32 năm Mao mới lần đầu trở về quê cũ. Ở đây đă mấy năm trước một ngôi nhà lớn được xây để đón lănh tụ về thăm. Quanh nhà này, những gia đ́nh không đáng tin cậy về chính trị đều bị đưa đi xa, để không cho họ tiếp cận Mao hay gặp gỡ người nước ngoài đến thăm viếng quê Mao. Mao ngủ lại 2 đêm ở quê, gặp gỡ một số bà con. Có người nói rơ các báo cáo về thành tựu nông nghiệp của vùng đă bị thổi phồng quá đáng; rằng một số người ngay thật đă bị chụp mũ và đánh đập. Một người làng c̣n hỏi Mao sao lại bắt nông dân ăn ngủ chung như ở trại lính. Bà con than phiền nhất là đói, đói quá, thường chỉ ăn được có 1 phần 3 hay 1 phần tư dạ dày. Mao mời mấy chục bà con quê nhà một bữa cơm; bà con ăn ngấu nghiến chỉ trong một thoáng.
Ở quê Mao không có một ai tán thành chính sách của Mao, từ công xă nhân dân đến thuế nông nghiệp. Có nhiều kêu ca phàn nàn, Mao bèn gọi mấy vị chính quyền của tỉnh để đẩy trách nhiệm cho họ: hăy ghi lại những ư kiến thuộc trách nhiệm của địa phương. Thế là xong. 32 năm mới về làng một lần duy nhất này, về sau Mao không về lần nào nữa.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Nguoicay.jpg
Người cày thay trâu!
Jung và Jon cho thấy rằng nhiều người trên thế giới tưởng lầm rằng Mao có lập trường nông dân, quan tâm đến cuộc sống của nông dân, thông cảm với cảnh nghèo khó cực khổ, lạc hậu của nông dân. Không có ǵ sai hơn. Mao không hề tỏ ra tin yêu, quư trọng nông dân. Mao dửng dưng với đau khổ lao động vất vả đến kiệt sức của họ. Mao không hề động ḷng về nạn đói chết hàng loạt, chết hàng chục triệu nông dân trên đất Trung quốc của ông. Mao cũng không hề nhận thấy trách nhiệm rơ ràng của ḿnh trong thất bại hiển nhiên của các chính sách Đại nhảy vọt, công nghiệp hoá, Công xă nhân dân. Tất cả tâm sức của Mao đặt trọn ở xây dựng một nền thống trị cá nhân, một triều đ́nh hùng mạnh của một Hoàng đế đội lốt cộng sản có quyền lực tuyệt đối.
10-. Trong vấn đề nông dân, Jung và Jon cho biết Mao chỉ nghĩ đến khi mong muốn chia khu vực ảnh hưởng với Liên Xô. Mao muốn ḿnh sẽ cầm đầu cả khu vực châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh. Staline kiên quyết lắc đầu. V́ Liên Xô vừa là nước ở châu Âu, vừa là nước ở châu Á. Ngay Mông Cổ, Triều Tiên, và cả Ấn Độ nữa, Liên Xô cũng muốn giữ ảnh hưởng của ḿnh. Liên Xô chỉ muốn Trung Quốc nắm Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Cambốt, Indonêxia thôi.
Có lúc Trung quốc muốn nắm các nước Á - Phi - La (Mỹ la tinh) được coi là nông thôn của thế giới, nhưng Liên Xô không chịu. Liên Xô luôn tự nhận là cường quốc hạt nhân hàng đầu của thế giới, ở trên hẳn Trung quốc một tầm cao. Đây luôn là niềm cay đắng của Mao.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:23 PM
X - Mao trong cuộc Cách mạng văn hoá vô sản
1-. Gọi là Cách mạng văn hoá vô sản, thật ra không có ǵ là cách mạng, cũng chẳng có ǵ là văn hoá, hay vô sản cả. Đây chỉ là thủ đoạn riêng của Mao để duy tŕ bằng được quyền lực cá nhân, khi quyền lực ấy bị lung lay.
Bước nhảy vọt lớn do Mao đề xuất với Công xă nhân dân, công nghiệp hoá lấy công nghiệp nặng làm trung tâm, các ḷ cao nông thôn, tṛ diệt chim sẻ, chính sách trưng thu lương thực... đă đưa Trung quốc vào thảm trạng chết đói rộng khắp, ḷng dân hết chịu nổi. Đại hội đảng VIII họp từ năm 1956, lẽ ra Đại hội IX phải họp vào năm 1961, theo điều lệ đảng qui định. Nhưng Mao e ngại. V́ nếu họp giữa nạn đói lớn, khi các chính sách lớn đều phá sản th́ Mao sẽ mất quyền, mất chức. Người sẽ thay thế Mao có thể sẽ là Lưu Thiếu Kỳ, nhân vật số 2, được Quốc hội bầu là Chủ tịch Nước ngày 20-4-1959. Trước đó, Mao vừa là Chủ tịch đảng vừa là Chủ tịch nước. Lưu Thiếu Kỳ vốn là người ngay thẳng, dám góp ư với Mao, can ngăn Mao về những chính sách nóng vội, phiêu lưu.
2-. Tháng 2-1962 cuộc họp lớn của toàn đảng được triệu tập về Bắc Kinh, có 7 ngàn đại biểu, từ đó được gọi là Hội nghị Bẩy Ngh́n.
Ư định của Mao là duy tŕ các chính sách cũ với một vài điều chỉnh, vin cớ là những vấp váp trên con đường cách mạng là chuyện thường, đó là chi phí cho học tập và thử thách, lỗi là tại bộ máy thực hiện, sẽ thay đổi cán bộ ở cơ sở... Mao đồng ư sẽ giảm trưng mua lương thực 34% nhằm xoa dịu nông dân. Mao để 2 tuần lễ cho mọi người tha hồ phát biểu ư kiến ở các nhóm. Nhưng ai cũng dè dặt v́ tại hội nghị Lư Sơn tháng 7-1959 tấm gương Bành Đức Hoài bị trừng phạt ra sao do nói thẳng nói thật c̣n đó. Hai tuần tẻ nhạt trôi qua.
Mao yên trí ôm ấp các cô gái ở ngay một pḥng riêng trong Đại lễ đường nhân dân và quyết định kết thúc cuộc họp trong ngày duy nhất họp toàn thể ở hội trường lớn, tại đó Mao đă thảo ra một bài kết luận sẵn và sẽ giao cho Lưu Thiếu Kỳ tuyên đọc.
Nhưng bất ngờ xảy ra. Sáng 27-1 Lưu Thiếu Kỳ không đọc bài Mao viết sẵn. Trước 7 ngàn đại biểu chăm chú Lưu lần lượt chứng minh các chính sách vừa qua đă lần lượt phá sản và tàn phá đất nước ra sao. Dân không có ăn, có mặc, xă hội thiếu mọi thứ cần để sống b́nh thường. T́nh h́nh năm 1961 là bi thảm nhất. Lưu cao giọng: không có Nhảy vọt lớn, chỉ có nhảy vọt dài về phía sau. Lưu đề nghị giải thể Công xă nhân dân, từ bỏ bước nhảy vọt và ngừng chương tŕnh công nghiệp hoá. Phần lớn 7 ngàn đại biểu tán thành lời nói thật của Lưu, môt số tiếp lời Lưu, yêu cầu từ bỏ chính sách cũ.
Mao bị một cú bất ngờ, một vố đau. Nhưng rất ranh khôn, Mao giữ kín sự cay cú đến phát điên, t́m chiến thuật xoa dịu, tỏ ra đồng t́nh và kéo dài cuộc họp nhằm đối phó. Chiến thuật của Mao là nhận thiếu sót, nhưng đổ tội cho quan chức cấp tỉnh, cho Bộ Nông nghiệp.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/LiuShiaoqi2.jpg
Vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ-Vương Quang Mỹ
3-. Phản công chính của Mao là gọi ngay Lâm Bưu đến để bàn mưu thâm. Sáng 29, Phó chủ tịch đảng Lâm Bưu lên diễn đàn ngay. Lưu cao giọng: ''Những thất bại là cái giá phải trả cho khôn lớn. Mao chủ tịch bảo thế. lời Mao chủ tịch bao giờ cũng đúng...'' Thế là Mao được cứu. Mao tự tin trở lại, khen Lâm và ngầm báo cho Lưu rằng: ngươi sẽ không thoát khỏi tay ta.
Cuộc họp kết thúc với không khí trở lại như b́nh thường; có những phát biểu khá gay gắt về t́nh h́nh đói kém, những không ai dám nói đến trách nhiệm của Mao, không dám đụng đến tên Mao, không ai dám phân tích sâu sắc nguyên nhân thật sự của t́nh h́nh bi thảm. Ngày 30-1-1962 Mao kết luận, lần đầu tiên từ khi làm chủ tịch 1-10-1949, Mao tự phê b́nh nhưng với sự lư giải chung chung: ''v́ tôi là chủ tịch nên tôi phải nhận trách nhiệm'', v.v... Ngay sau đó, Mao chịu giảm thuế nông nghiệp, giảm trưng thu nông sản, giảm chi phí đóng tàu ngầm nguyên tử, giảm viện trợ cho các nước khác, tăng đầu tư cho nông nghiệp. Người dân được tương đối tự do sang Hồng Kông; hàng loạt người bị thanh trừng những năm 1957-58, lên đến 10 triệu, được phục hồi.
Rơ ràng là nhờ sự ngay thật, dũng cảm của Lưu Thiếu Kỳ mà nạn đói được chấm dứt, nông thôn và thành thị dễ thở hơn. Nhưng Lưu sắp phải trả giá.
4-. Mao nghiền ngẫm cách trả thù cay độc nhất đối với Lưu. Bằng cuộc Cách mạng văn hoá vô sản.
Tháng 5-1966 Mao thành lập Tiểu tổ Cách mạng Văn hoá để lănh đạo, gồm Giang Thanh vợ Mao làm Tổ trưởng, Trần Bá Đạt nguyên thư kư riêng của Mao làm thường trực, Khang Sinh cầm đầu cơ quan mật vụ làm cố vấn, thêm Diệp Quần vợ Lâm Bưu làm ủy viên. Mao giao cho Lâm Bưu và Chu Ân Lai thay mặt đảng và chính phủ chỉ đạo Tiểu tổ này.
Nền tảng của cuộc Cách mạng này là uy tín tuyệt đối của Mao và không khí sùng bái cá nhân Mao đưa lên mức cao nhất để không một ai dám chống lại.
Nhân dân Nhật báo và đài phát thanh hầu như chỉ nói về Mao, những lời dạy và chỉ thị của Mao, ảnh Mao thường chiếm cả trang, in màu, chữ đỏ. Tổng kết lại có 1 tỉ 100 ngàn ảnh màu lớn chân dung Mao, 4 tỉ 8 huy hiệu Mao đủ cỡ, 1 tỉ tuyển tập Mao gọi là Mao tuyển, không biết cơ man nào là sách nhỏ Mao, b́a đỏ cầm tay, mà ai cũng có trong tay để đọc và học thuộc ḷng...Sách nhỏ Mao b́a cứng c̣n được dùng để đập vào mặt, cổ, ngực, gáy nạn nhân, gây thương tích.
Ngày 13-6, Mao ra lệnh ngừng học trong cả nước để học sinh sinh viên làm cách mạng văn hoá. Thanh niên đều được ăn ở tại trường, đi lại bằng phương tiện công cộng đều miễn phí.
Mao 8 lần lên lễ đài Thiên An Môn, mặc quân phục xanh, đội mũ két mang h́nh sao đỏ, ve cổ áo mang 2 miếng dạ đỏ, cánh tay mang băng đỏ in 3 chữ Hồng Vệ Binh, thắt lưng da lớn, để duyệt hàng ngũ Hồng vệ binh.
Lợi dụng đặc tính tuổi trẻ hiếu động, ưa phiêu lưu, dễ kích động, thiếu suy nghĩ chín chắn, Mao chỉ thị cho họ phải có gan lớn hành động đảo lộn đập phá xă hội cũ, bạo động và tạo loạn, hung hăn với mọi kẻ thù của cách mạng, không chút thương xót, nương tay.
Những nạn nhân tiêu biểu đầu tiên là một bà hiệu trưởng trường trung học Bắc kinh bị đấu rồi đánh đá đến chết ngay tại trường và ''Nhà văn Nhân dân'' Lăo Xá 69 tuổi bị bắt quỳ rồi bị xỉ vả đánh đập ngay tại trụ sở Hội Nhà Văn, đêm ấy ông nhảy xuống hồ.
Tiếp theo là hàng trăm giáo sư trường đại học Bắc kinh và Thanh Hoa, hàng trăm nghệ sỹ ưu tú nhà hát-múa-kịch Bắc kinh bị đưa ra đấu tố, đội mũ lừa, mặt bị bôi nhọ nhem, hết '' văn tố '' đến ''vơ tố '', hàng chục người bị thương tích và chết, không ít người thắt cổ, uống thuốc ngủ liều cao, nhảy lầu...
Mao chỉ thị cho Hồng vệ binh trung ương và địa phương giao lưu kinh nghiệm và khí thế, làm cho tướng Trần Nghị sau này nhận định: cả nước biến thành trại giam, nơi tra tấn và địa ngục rộng lớn.
Theo lệnh Mao, bộ trưởng Công an Tạ Phú Trị ra chỉ thị cho lực lượng công an toàn quốc không được can thiệp, cản trở, mà phải ủng hộ mọi hành động của Hồng vệ binh.
Những kẻ tham lam trong Hồng Vệ Binh mặc sức đi cướp phá các nhà có của, cướp đoạt vô vàn của quư, trang sức, vàng bạc, kim cương, đô la, đồ cổ, tranh cổ, sách cổ quư hiếm. Riêng Bắc Kinh có 6.843 di tích lịch sử được xếp loại, 4.922 bị phá huỷ và xâm hại, một sự tàn phá chưa từng có từ thời trung cổ.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/VoLuuThieuKyWangGuang-mei.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/LuuThieuKy.jpg
Vương Quang Mỹ và Lưu Thiếu Kỳ bị vệ binh đỏ đấu tố
5-. Khi không khí khủng bố đă có đà trong cả nước, Mao bắt tay vào cuộc trừng phạt kẻ tử thù: Lưu Thiếu Kỳ, kẻ dám phạm thượng, phê phán chính sách của Mao tháng 2-1962 trước 7 ngh́n quần thần của Mao.
Ngày 5-8-1966 Mao ra quyết định truất mọi chức của Lưu Thiếu Kỳ, và nói rơ từ nay nhân vật số 2 là Lâm Bưu. Ngày 25-12-1966, trước ngày sinh nhật thứ 73 của Mao, 5 ngh́n hồng vệ binh đi diễu hành giữa Bắc kinh, các xe gắn loa vang lên lời hét: Đả đảo Lưu Thiếu Kỳ! Ngày 1-1-1967 theo lệnh Mao, trên tường phía ngoài nhà ở của vợ chồng Lưu trong khu Trung Nam Hải bị vẽ nhiều khẩu hiệu lớn đả đảo vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ - Vương Quang Mỹ.
Lưu lấy Vương Quang Mỹ vào năm 1948. Vương lớn lên trong gia đ́nh quyền quư. Cha bà là một chính khách và nhà ngoại giao lớn; mẹ bà là nhà giáo dục. Bà tốt nghiệp ngành vật lư trong một trường ḍng do người Mỹ mở ở Trung quốc. Bà có học bổng trường Đại học Michigan (Hoa kỳ) nhưng từ chối để ở lại trong nước và gia nhập Đảng CS. Vợ cũ của Lưu bị Quốc dân đảng sát hại. Lưu quen Vương từ khi ở trong căn cứ đỏ. Hai vợ chồng tin yêu nhau rất mực và cùng chung quan điểm chính trị.
Trước khi giáng đ̣n quyết định với Lưu, Mao vẫn có chút do dự do uy tín Lưu quá lớn. Lưu từng ở Liên Xô những thời gian dài. Lưu là nhận vật Trung Hoa duy nhất c̣n sống và từng gặp Lénine ở Moscow năm 1921. Tối 13-1 Mao cho mời Lưu đến ''Pḥng 118'' giữa Đại Lễ đường Nhân dân cố nhẹ nhàng tṛ chuyện, với ngụ ư rằng nếu Lưu tỏ ra mềm dẻo, quay lại thần phục Mao hoàn toàn th́ Mao sẽ rộng lượng bỏ qua. Lưu điềm đạm nhưng kiên quyết không chịu khuất phục. Lưu chính thức đặt vấn đề từ chức đề về nông thôn sống như dân thường. Lưu yêu cầu Mao chấm dứt cuộc Cách mạng văn hoá, đừng trừng phạt ai nữa và nếu cần th́ hăy chỉ trừng phạt một ḿnh Lưu này mà thôi.
Ít ngày sau điện thoại của Lưu bị cắt. Cuộc quản chế không có xét xử bắt đầu. Ngày 1-4-1967 báo Nhân dân nhật báo gọi Lưu là ''tàn dư con đường tư bản''. Giang Thanh v́ ghen tỵ với Vương Quang Mỹ chỉ đạo các cuộc đấu tố Vương trên đường phố; Vương phài mặc váy bẩn, cổ mang ṿng hạt ngọc giả làm bằng nhựa như quả bóng ping pong. Bà bị bọn sinh viên tay chân Giang Thanh đánh đập đá, bắt cúi đầu quỳ xuống, nhưng bà vẫn ngẩng cao đầu đứng thẳng dậy. Về sau, một kẻ cầm đầu nhóm sinh viên độc ác này khi kể lại phải thừa nhận bà có nghị lực và nhân cách phi thường. Sau mỗi trận bà đều viết thư cho Mao nói rơ sự khinh bỉ của ḿnh.
Nhằm đánh quỵ vợ chồng Lưu, v́ biết rằng 2 vợ chồng rất gắn bó tin yêu khuyến khích an ủi nhau, Mao giở tṛ độc ác tách riêng 2 người, đấu mỗi người một nơi. V́ sợ Lưu phát biểu trước quần chúng những điều bất lợi cho Mao, lỡ ra nhà báo nước ngoài nghe được, Mao yêu cầu chỉ tổ chức đấu vợ chồng Lưu trong khu Trung Nam Hải, với những thanh niên là số lấy trong lực lượng bảo vệ. Để có bằng chứng truy tố ra toà án, Mao và Tiểu tổ cách mạng Văn hoá cùng Khang Sinh t́m mọi cách để khai thác mọi người có quan hệ gần gũi với vợ chồng Lưu. Hàng trăm người bị bắt, bị tra tấn, đe doạ, mớm cung. Cả một nhà tù được mở rộng để giam giữ số người trong ''vụ án Lưu Thiếu Kỳ''. Sử Triết (Shi Zhe), phiên dịch tiếng Nga ở Moscow, từng dịch cho Lưu khi gặp Staline, bị bắt giam đầu tiên. Rồi vợ chồng Lư Lập Tam (vợ người Nga), vợ chồng Lạc Phủ (Trương Văn Thiên) đều bị giam tại đây. Nhưng không có một bằng chứng nào có giá trị. Tất cả các tội làm việc cho Quốc dân đảng, cho Nhật bản, cho Liên Xô, chống đảng CS, cộng tác với CIA... đều chỉ là tưởng tượng. Mao không dám để cho điều tra viên hỏi cung trực tiếp vợ chồng Lưu v́ sợ Lưu sẽ đưa ra những ư kiến xác đáng phê phán và kết tội chính Mao và các chính sách của Mao với những chứng cớ rơ ràng. Mao đành dùng cách đi t́m bằng chứng gián tiếp, nhưng vô hiệu. Vụ án bế tắc.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/433408592-_o.jpg
Tuổi trẻ bị kích động vào cuộc thanh trừng do mưu đồ cá nhân của Mao
Vương Quang Mỹ bị giam 12 năm, có lúc nằm liệt giường hàng năm. Mẹ của bà chết trong tù, khi gần 80 tuổi. Lưu bị liệt một chân trong tù, bị mất ngủ liên miên, c̣n mắc bệnh tiểu đường và viêm phổi.
Một cuộc họp Trung ương đảng bầu ra từ Đại hội VIII năm 1956 được Mao triệu tập vội trước khi có Đại hội IX để chính thức ra quyết định khai trừ Lưu. Thật ra đây là thiểu số trung ương, chẳng có giá trị, v́ quá nửa uỷ viên trung ương được bầu đă bị Mao thanh trừng. Tại hội nghị Chu Ân Lai đọc lời kết tội Lưu là: ''một kẻ phản bội, tay sai của kẻ thù, một con người thối nát''. Có lẽ chẳng ai tin chuyện ấy, cả Chu và cả Mao nữa.
Tháng 4 - 1969 tại Đại hội IX, họp sau Đại hội VIII đến 13 năm, sau những cuộc thanh trừng đẫm máu do Mao chủ trương, sau cái chết của ít nhất là 36 triệu nông dân khốn khổ điêu đứng và binh sỹ bị ném vào chiến tranh do những chính sách phiêu lưu của Mao, Mao củng cố được vị trí Hoàng đế đỏ của ḿnh.
Mao dửng dưng báo tin cho đại hội là Lưu đang hấp hối.
Ngày 11-2-1968 trong nhà tù, vào lúc tỉnh táo, Lưu Thiếu Kỳ đă viết bản căi tội cuối cùng, lên án thái độ độc đoán của Mao, một thái độ Mao có từ những năm 1920. Đây là văn kiện quư giá cho các thế hệ sau.
Tháng 10-1969 Lưu ốm nặng thêm. Cựu chủ tịch nước Trung Hoa nay là một người tù được chuyển bằng máy bay từ Bắc Kinh đến Khai Phong. Lưu tắt thở vào ngày 12-11-1969, sau 3 năm bị tù tội hành hạ. Ông được chôn ở một nơi kín đáo, với một bí danh, c̣n được báo là mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, để không ai dám đến gần nơi chôn. Ngày ông chết được giữ kín.
Bà Vương Quang Mỹ vợ ông sau đó vẫn bị quản thúc khắt khe, bà chết lặng lẽ ngày 13-10-2006 ở Bắc kinh (thông tin này không có trong sách của Jung và Jon; là một tin phụ trên báo Trung Quốc, trong sự dửng dưng của giới cầm quyền kế thừa Mao).
6-. Qua cuộc Cách mạng Văn hoá vô sản, Mao đă đạt được mục đích: duy tŕ quyền lực đă giành được không bị mất vào tay kẻ khác. Với biết bao nhiều sinh mạng và tổn thất cho nhân dân và đất nước. Nh́n lại, sự kiện bi thảm có một không hai trên thế gian này không có tư ǵ là cách mạng, là cực kỳ phản văn hoá, vô nhân đạo, c̣n đầy đoạ đến tận cùng giai cấp nghèo khổ vô sản.
Cuộc cách mạng văn hoá vô sản ở Trung quốc đặt ra cho mọi người một câu hỏi day dứt: làm sao một con người, với tham vọng không giới hạn, lại có thể dắt mũi, không chế, hành hạ, nhào nặn hàng tỉ con người theo ư riêng của ḿnh, với những hậu quả không sao lường hết.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:25 PM
XI - Mao với nỗi ám ảnh từ ngoài và niềm cay đắng từ trong
1-. Cuộc đời của Mao rất sôi nổi và nhiều lúc bấp bênh trong quá tŕnh giành đỉnh cao quyền lực và duy tŕ quyền lực cao nhất bằng mọi giá, dù cái giá ấy là sinh mạng của hàng vạn đồng chí của ḿnh, hàng triệu binh sĩ của ḿnh hay hàng chục triệu nông dân nghèo khổ trên đất nước ḿnh.
Mao từng ở trong cơ quan trung ương Quốc dân đảng rồi chuyển sang đảng cộng sản; ở trong đảng CS khi th́ là uỷ viên trung ương, khi là uỷ viên dự khuyết bộ chính trị, khi lại mất chức, bị khai trừ khỏi đảng, khi lại chỉ có cái chức chủ tịch khu đỏ ở Giang Tây, hoặc chỉ là Chủ tịch căn cứ Diên An. Có khi Mao không được nắm quân đội, khi th́ chỉ là phó chính uỷ Hồng quân.
2-. Khi c̣n Staline, đảng CS Liên Xô luôn được Mao coi là thượng cấp của ḿnh, Staline là cấp trên để thường xin chỉ thị, Mao cũng coi Dimitrov bí thư Quốc tế CS – Komintern (Quốc tế CS), rồi sau là Kominform (cơ quan Thông tin CS Quốc tế) là cấp trên của ḿnh. Mao luôn ḍ xét thái độ của Staline và Dimitrov đối với cá nhân ḿnh, bưng bít để những tin xấu về ḿnh không đến được Moscow, luôn kiểm soát liên lạc radio sang Liên xô để kiểm duyệt các điện báo. Staline nhiều lần biết rơ Mao có cá tính độc ác với đồng chí, hay chia rẽ, kéo bè cánh, kém kỷ luật, để quân lính cướp phá dân như thổ phỉ, nhưng Staline vẫn ưa Mao ở ư chí mạnh mẽ không thương tiếc với kẻ thù giai cấp và kẻ thù trong nội bộ, ư chí độc đoán mang xu hướng độc tài toàn trị của Mao cũng hợp với khẩu vị của Staline. Chính Staline đă chọn Mao, xem mặt gửi vàng, mà không chọn Vương Minh, Trần Độc Tú, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Lư Lập Tam hay Trương Văn Thiên... dù những người ấy từng ở Liên Xô lâu, từng làm việc với Staline, am hiểu tiếng Nga và có nhiều đức tính trội hơn Mao.
Sau khi Staline chết, rồi Khrouchtchev lên, quan hệ căng thẳng và quyết liệt, Mao lên án Khrouchtchev là trùm xét lại. Sau khi Khrouchtchev bị hạ vào tháng 10-1964, Mao hy vọng Liên Xô sẽ ngừng chống sùng bái cá nhân, phục hồi cho Staline. Brejnev là ông chủ mới ở Điện Kremli muốn bang giao trở lại b́nh thường với Bắc kinh nhưng hiểu rơ t́nh h́nh cực xấu về kinh tế xă hội ở Trung quốc cũng như thái độ ương ngạnh ham quyền lực của Mao nên có ư thúc đẩy chính giới Trung quốc thay Mao bằng một người khác.
Ngày 7-11-1964 Điện Kremli mở tiệc lớn mừng Cách mạng tháng mười, đoàn Trung quốc đông đảo do Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu sang dự sau thời gian dài căng thẳng. Một sự kiện kinh hoàng xảy ra. Nguyên soái Rodion Malinopski bộ trưởng quốc pḥng Liên xô đến ghé tai Chu Ân Lai nói :'' Chúng tôi không muốn một Mao hay một Khrouchtchev quấy rầy quan hệ giữa chúng ta ''. Chu giật ḿnh đáp: ''Tôi không hiểu ngài muốn nói ǵ ''. Ngay sau đó, Malinopski lại nói với Nguyên soái Hạ Long (thay mặt bộ trưởng quốc pḥng Trung quốc): ''Chúng tôi đă loại tên hề Khrouchtchev, các bạn hăy làm như vậy với Mao tên hề của các bạn đi ! ''. Một lúc sau, Malinopski lại nói với Hạ Long theo giọng bỗ bă con nhà lính: '' Bộ quân phục nguyên soái của tớ và của cậu đều như là cứt con chó của Staline và cuả Mao ''. Ngay đêm ấy Chu thảo báo cáo tỷ mỷ gửi cho Mao. V́ đây không phải là chuyện đùa. Ở cương vị nguyên soái, uỷ viên bộ chính trị, bộ trưởng quốc pḥng nói ra ắt phải là từ một chủ trương bán chính thức của ban lănh đạo đảng Liên Xô.
Sáng hôm sau, theo lệnh Mao, Chu Ân Lai chính thức phản đối chuyện này với Brejnev. Phía Liên xô xin lỗi, Liên xô không hề có ư ǵ, đây là do Malinovski uống quá nhiều rượu. Có lẽ trong chuyện hiếm có này, phía Liên Xô vẫn chưa hiểu tâm lư của Chu Ân Lai là sợ sệt và quy phục Mao đến mức nào.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/MAo-CHuDuc.jpg
Nhà nước đỏ Trung Quốc do Mao thành lập
Thật ra 12 năm trước Mao đă bị Staline chơi một vố đau điếng. Hồi ấy, tháng 10- 1952 Lưu Thiếu Kỳ được Mao cử sang Liên Xô dự Đại hội đảng cộng sản Liên xô thứ 19; ngày 8 tháng 10 Lưu đọc lời chào mừng trước đại hội. Sáng ngày 9, trên báo Pravda (Sự Thật) của đảng Cộng sản Liên Xô đăng bài và ảnh Lưu với lời giới thiệu là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung quốc. Lưu phải vội vàng cải chính, v́ với các đảng cộng sản thường tổng bí thư là nhân vật cao nhất. Mao hiểu rằng báo Pravda là tờ báo cực kỳ bảo thủ và ''nghiêm chỉnh'', không có sơ xuất. Đây là cú đá nhẹ để cảnh cáo và thăm ḍ Mao. Mao vốn đa nghi lại e sợ Lưu Thiếu Kỳ v́ Lưu từng sống ở Liên xô, từng gặp Staline nhiều lần, có uy tín về nhân cách. Lần này câu rỉ tai của Malinopski thật nguy hiểm.
Với Mao chỉ vài lời rỉ tai của một quan chức Nga lớn như vậy làm Mao kinh hồn bạt vía lâu dài, luôn lo sợ bị Liên xô can thiệp phế bỏ ḿnh. Nỗi lo sợ của Mao đổ lên đầu hàng ngàn quan chức và sinh mạng hàng trăm quần thần của Mao. Người bị điêu đứng nhất là nguyên soái Hạ Long, chỉ v́ bị Malinopski rỉ tai, phải chịu mấy trăm cuộc hỏi cung và tra tấn cho đến chết bi thảm trong tù tháng 6-1969, tất cả sĩ quan tướng lĩnh từng cộng tác với Hạ Long đều chung số phận. 6 năm sau, tháng 6-1975 ngày kỵ của Hạ Long được bạn bè và gia đ́nh tổ chức, v́ sợ bóng vía cả người chết và người sống, Mao quy định không được có ṿng hoa và diễn văn.
Sự kinh sợ Liên Xô của Mao lên đến mức bệnh hoạn. Không một ai được sang đất Liên xô nữa. Tướng Hứa Quang Đạt (Xu Quang-da) theo kế hoạch cũ, tháng 5-1965 sang Moscow họp về chương tŕnh hợp tác quân sự, khi về bị hỏi cung 416 lần suốt 18 tháng, rồi chết trong tù.
Mao tính từ biên giới Ngoại Mông thân Liên xô đến biên giới Trung quốc có 5 trăm Kilômet b́nh địa, xe tăng có thể phóng sang Bắc kinh, liền ra lệnh dựng nhiều dăy ''núi nhân tạo'', cao 40 mét, rộng 3 , 4 trăm mét để ngăn chặn, tốn không biết bao công của. Cuối năm 1969 khi phái đoàn Liên xô sang Bắc kinh họp về biên giới, Mao đa nghi sợ sẽ bị Liên xô tấn công liền về ẩn ở Tô châu, luôn ở dưới hầm sâu tránh bom nguyên tử.
Trên là nỗi ám ảnh Mao từ ngoài nước. Dưới đây là nỗi bất an lớn từ bên trong.
3-. Trở lại lúc Mao đă là Chủ tịch đảng kiêm Chủ tịch nước rồi, vị trí của Mao vững vàng không có ǵ đe doạ nổi. Ấy vậy mà như các phần trên đă nói, hai lần Mao suưt mất chức, một lần ở Lư Sơn tháng 7-1959, và lần thứ hai ở Bác Kinh tháng 2-1962 khi các chính sách của Mao phá sản rơ ràng không sao che dấu chối căi được. Lần trước là v́ Bành Đức Hoài tính thẳng thắn ngay thật, và lần sau là do Lưu Thiếu Kỳ có tŕnh độ chính trị, đức độ, uy tín cao. Cả 2 lần vị trí Mao lung lay dữ dội .Cả 2 lần kẻ cứu Mao là Lâm Bưu. Lâm Bưu sinh năm 1908 ở Hồ Bắc, thông minh, từng học ở Liên Xô, tốt nghiệp học viện quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu), từng là Tư lệnh đạo quân Đông Bắc chỉ huy Chiến dịch lớn đánh chiếm Măn Châu rồi đánh chiếm vùng Thiên Tân - Bắc Kinh, từng sáng tạo binh thư về cách đánh công kiên cho Hồng quân. Mao hiểu rơ tâm địa của Lâm là kẻ đa mưu, lắm mánh khoé và đầy tham vọng cá nhân, từng có mưu thâm nhằm hạ bệ danh tướng Chu Đức để rồi ngoi lên đứng đầu cả 10 vị nguyên soái. Chỗ mạnh nhất của Lâm là Lâm được Mao giao trực tiếp năm quân đội, cả lục, hải, không quân. Sau khi Lâm được Mao dùng làm mũi nhọn để gạt Bành Đức Hoài đến Lưu Thiếu Kỳ, Lâm được Mao trả công, được nâng lên là một trong 5 phó chủ tịch đảng, rồi sau là nhân vật số 2, kẻ sẽ lên ngôi thay ḿnh.Tại Đại hội IX Lâm đọc Báo cáo Chính trị, được ghi tên vào Điều lệ đảng là Người kế thừa Mao. Mao c̣n cho vợ Lâm là Diệp Quần vào Bộ chính trị dù đă có quy định trong đảng là không được đưa các bà phu nhân lên mà không có thực tài và đức. Diệp Quần nổi tiếng là đa dâm, khi ở Nga đă bồ bịch với sĩ quan Nga, về nước quan hệ càng buông thả v́ Lâm Bưu bất lực, tạng yếu, sợ nước, sợ gió, sợ tiếng động. Mật vụ của Mao c̣n ghi âm lén những buổi trao đổi t́nh ái rất mùi mẫn trên điện thoại giữa Diệp và tổng tham mưư trưởng họ Hoàng.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/MAo-Lam.jpg
Lâm Bưu và Mao trong cách mạng văn hoá
4-. Lâm được Mao thưởng công đến vậy vẫn chưa vừa ư. Ḷng tham quyền của Lâm là không có hạn. Tháng 8-1970, tại cuộc họp Ban chấp hành trung ương đảng ở Lư Sơn, một vấn đề thường bỗng trở nên gay gắt, khi bàn về chức Chủ tịch nước. Quốc hội Trung quốc ngày 3-1-1965 vẫn bầu Lưu Thiếu Kỳ tiếp tục làm Chủ tịch nước. Nhân dân nhiều người hô: Mao Chủ tịch và Lưu Chủ tịch vạn tuế! Thậm chí có người c̣n muốn ở Thiên An Môn chỉ treo ảnh Chủ tịch nước thôi. Lại cũng có ư kiến nên bỏ chức chủ tịch nước đi; về chính quyền có Thủ tướng là đủ. Tại hội nghị Mao và Lâm có ư kiến khác nhau. Mao muốn bỏ chức Chủ tịch nước. C̣n Lâm muốn giữ, để dành chức ấy cho ḿnh, v́ chắc chắn Lưu Thiếu Kỳ sẽ phải ra đi, hiện đang bị quản thúc rồi. Mao giật ḿnh thấy số người tán đồng Lâm có vẻ nhiều hơn số đồng ư với Mao. Thế là Mao dùng quyền chủ tịch đảng chấm dứt thảo luận vấn đề, c̣n quyết định đưa Trần Bá Đạt, nhân vật số 5 lúc ấy, ra khỏi Bộ chính trị; Trần vừa mới tỏ ư ủng hộ Lâm. Ngay sau đó Trần bị quản thúc rồi bị giam. Quan hệ Mao - Lâm trở nên gay cấn.
Mao lo sợ Lâm manh động, liền cử những tướng tin cẩn về nắm Bộ tư lệnh quân khu Bắc kinh. Mao cẩn thận c̣n cho mấy cô diễn viên múa của không quân đang hầu hạ ḿnh đi nơi khác e rằng đó là người của Lâm cài.
Lâm hiểu rơ Mao là con người cực thâm hiểm khó chọi lại, bàn với gia đ́nh kế thoát thân. Lâm Bưu, Diệp Quần và con trai là Lâm Lập Quả bàn theo nhiều hướng: sang Nga, qua Mông Cổ, sang Hồng Kông (c̣n thuộc Anh), hay sang Đài loan; Hồng Kông là hướng chính. Lâm Lập Quả có bí danh là ''Hổ''.
Hổ vốn là sinh viên vật lư Đại học Bắc Kinh, lại khác thường là không ưa đấu tranh xô bồ bằng bạo lực của Hồng vệ binh. Hồ và nhóm bạn lập nên ''nhóm 571'' , đọc theo âm Bắc Kinh là : ''Ủ - Xí - Ỷ'' , viết là : '' Wu - Qi - Yi '', đọc thành : Vũ Khởi Nghĩa, có nghĩa là '' Nhóm khởi Nghĩa Vũ trang ''. Nhóm này kết luận Mao là kẻ cổ xuư bạo lực, tự hoang tưởng về ḿnh, thúc đẩy kẻ này chống người khác; Mao là kẻ bạo chúa phong kiến lớn nhất lịch sử Trung Hoa, đă biến bộ máy nhà nước thành ''cỗ máy xay thịt''. Hổ c̣n gọi Mao là '' B52 '', bụng lớn chứa đầy tư tưởng xấu như đầy bom để giết đám đông.
5-. Khi Hổ nhận ra Mao sắp ra tay trị cả gia đ́nh ḿnh, Hổ nghĩ đến hành động ám sát Mao, bằng ném bom, dùng chất độc, hơi ngạt, nhưng đều thấy khó v́ Mao rất cảnh giác giữ ḿnh.
6-. Tháng 3-1971, Mao dự định họp một cuộc họp cán bộ để vợ Lâm là Diệp Quần, ủy viên bộ chính trị và vài kẻ theo Lâm kiểm điểm. Mao bảo Chu Ân Lai nhắn với Lâm yêu cầu Lâm có mặt, mọi sự Mao sẽ cho qua. Nhưng Lâm từ chối. Mao tức điên lên.
Tháng 8-1971 Mao tức giận quyết loại Lâm và nói ra ư định ấy với một số cận thần đặc biệt, với lời dặn chớ cho Lâm biết. Nhưng rồi tin ấy vẫn đến tai Lâm. Lúc ấy Lâm cùng gia đ́nh nghỉ ở Bắc Đới Hà. Cả gia đ́nh quyết sớm cao chạy xa bay. Mới đầu Hổ định dùng máy bay tại sân bay Sơn Hải Quan. Ngày 8-9, Hổ bay về Bắc kinh, cầm trong tay lệnh viết tay của Lâm gửi bộ tư lệnh không quân. Hổ được cấp ngay máy bay theo lệnh Lâm. Nhưng Hổ vẫn muốn giết Mao đă. Lúc này Mao đang đi kinh lư qua Thượng Hải.
Hổ biết Lâm có cả một màng lưới thân tín ở Thượng Hải, họ có thể vâng lệnh Lâm do ghét Mao sẵn. Hổ c̣n lên một phương án đồng thời hành động ở thủ đô Bắc Kinh để phối hợp với Thượng Hải.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/DoDo-DiepQuan-LamHo.jpg
Hổ (phải), Diệp Quần (giữa), Đô Đô (trái)
Một hướng hành động nữa là Hổ t́m gặp tướng không quân rất trẻ Giang Đằng Giao (Jiang Teng-jiao) từng tỏ ra khinh ghét Mao, bàn nhiều phương án: ném bom, dùng súng phóng lửa, bắn bazôka vào đoàn tầu hoả của Mao khi ở Thượng Hải về.
Các kế hoạch c̣n ngổn ngang, chuẩn bị c̣n sơ sài, th́ có tin ngày 11 Mao sẽ về sớm. Chiều 12-9 Hổ lái chiếc máy bay nhỏ Trident đến Bắc đới hà, dụ định sáng hôm sau đưa gia đ́nh xuống Quảng Châu rồi ra Hông Kông. Để đánh lạc hướng, Lâm Bưu báo cho xung quanh sáng mai sẽ lên đường bay lên cảng Đại Liên, ở gần đó, như Lâm thường tới nghỉ.
Thế nhưng vào thời điểm gay go ấy, Hổ phạm một sai lầm bi thảm là báo tin cho Lâm Lập Hành (Lin Li Heng) là chị ruột ḿnh, c̣n có tên thân mật là Đậu Đậu (Đô Đô), rằng chuẩn bị gấp để mờ sáng cả nhà cùng lên đường.
Đô Đô yêu cha quư mẹ, nhưng bị nhồi sọ ở trường trở thành mê muội, hời hợt; trong cách mạng văn hoá Đô Đô, từng là sĩ quan phó chủ bút báo không quân. Đô Đô nghĩ rằng bỏ nước ra nước ngoài là hành vi phản bội không thể chấp nhận, liền mật báo cho lực lượng bảo vệ. Chu Ân Lai được báo ngay tin này, liền ra lệnh kiểm tra khẩn cấp vị trí của mọi máy bay, kể cả máy bay Trident thường chở Lâm Bưu. Bạn của Hổ trong bộ tư lệnh không quân báo ngay tin này cho Hổ. Nửa đêm, Hổ quyết định cất cánh ngay, nhưng không xuống Quảng Châu nữa mà bay lên Mông cổ để sang Liên xô.
23g50 phút xe chở gia đ́nh Lâm vào sân bay. Trên xe có vợ chồng Lâm, Hổ và một bạn thân của Hổ cùng người lái. Viên quản lư thường ra tiễn cũng trong xe. Xe vượt cổng gác sân bay, viên quản lư nhận ra chuyện bỏ trốn liền hô hoán rồi nhảy xuống; có vài tiếng súng nổ. Xe đậu gấp bên máy bay Trident. Máy bay cất cánh lúc 12g30 đêm, chở vợ chồng Lâm, Hổ, bạn Hổ, ngừơi lái xe; tổ lái có 9 người th́ chỉ có mặt trên máy bay 4 người. Máy bay đang được bơm nhiên liệu, v́ vội, mới bơm được 12 tấn rưỡi, chỉ có thể bay được 2 đến 3 giờ tuỳ độ cao và tốc độ. V́ bay thấp tránh radar nên nhiên liệu hao nhanh. Đến Ngoại Mông 2 giờ sau th́ đồng hồ chỉ sắp hết nhiên liệu, máy bay đang cố hạ khẩn cấp trên một thung lũng th́ nổ tung lúc 2g30 ngày 13-9-1971. Không ai sống sót. Phía Liên xô cho ngay chuyên viên đến, khám kỹ xác người chết thiêu, qua xương, răng... kết luận đúng là xác Lâm Bưu vợ và con trai Lâm Bưu.
6-. Mao trở nên con người khác hẳn trước. Mao vừa uất hận vừa cay đắng không c̣n biết tin ai. Người Mao tin nhất, đưa lên cao đến thế lại thành kẻ thù rắp tâm giết ḿnh. Vụ án Lâm Bưu càng mở rộng càng làm Mao mất ngủ và suy sụp. Th́ ra có nhiều kẻ muốn ám sát, muốn giết Mao. 3 sĩ quan lái trực thăng có ư định hạ sát Mao vào ngày Quốc khánh ở lễ đài. Có âm mưu bắn vào đoàn tàu đặc biệt của Mao. Một sĩ quan không quân leo lên lầu cao hô đả đảo Mao rồi nhảy lầu tự sát. Mao biết rơ những lời dân chửi ḿnh. Mao buộc phải tăng cường cảnh giác, không xuất hiện giữa đám đông, nới lỏng cuộc thanh trừng, phục hồi cho hàng chục vạn người bị án oan trong cách mạng văn hoá. Chỉ vài tháng năm 1971 Mao xọm hẳn như thêm hàng chục tuổi, ít nói, không cười, thêm bệnh sưng phổi, ho, mất ngủ dài dài, có lúc nói không ra hơi.
7-. Trong nỗi ám ảnh bị Liên xô bỏ rơi và lo sợ bị trừng phạt, trong niềm uất hận bị Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ vạch rơ những sai lầm và thất bại, trong niềm cay đắng bị cận thần tin cẩn nhất là Lâm Bưu từng là kẻ cứu ḿnh biến thành kẻ định giết ḿnh, vào cuối năm 1971 sang năm 1972, Mao có niềm an ủi khá lớn là được tổng thống Mỹ Nixon và cố vấn Nhà trắng Kissinger chiếu cố bắt tay thân thiện với hàng loạt sự kiện chấn động. Từ nền ngoại giao Ping pong, với cầu thủ Trương Tác Đống bắt tay cầu thủ Mỹ - vi phạm quy định là cầu thủ Trung hoa không được bắt tay tṛ chuyện riêng với người Mỹ, nhưng Trương được Mao khen về cái bắt tay này là ''một nhà ngoại giao tốt'', rồi đến việc Mỹ chính thức công nhận nước cộng hoà Nhân dân Trung hoa, Trung quốc vào Liên Hợp quốc chiếm ghế của Đàl loan, rồi chuyến Mao gặp Kissinger, nói đùa rằng : ông thấy phụ nữ Trung hoa có xinh đẹp không, nếu người Mỹ thích chúng tôi có thể xuất 10 triệu cô sang Mỹ, đến cuộc gặp lịch sử Nixon - Mao với tuyên bố chung Thượng Hải. Chưa bao giờ vấn đề Trung quốc cũng như tin tức về Mao và h́nh ảnh Mao được thế giới nói nhiều như vậy.
Nhưng niềm vui của Mao không được lâu. Mao vẫn mất ngủ, vẫn e ngại Liên xô, vẫn sợ bị gạt khỏi quyền lực, vẫn ra tay thanh trừng, dựa hẳn vào mụ vợ quái đản Giang Thanh và '' lũ 4 tên '' ma giáo, sống những năm cuối đời trong hốt hoảng lo âu, với một căn bệnh hiểm nghèo cực hiếm. Ra sao, xin mời các bạn xem phần sau.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:27 PM
XII - Mao trong những ngày tháng cuối đời
1-. Những ngày tháng cuối đời của Mao từ 1974 đến 1976 là thời gian Mao ốm đau, lo nghĩ trong t́nh trạng bấp bênh nhằm duy tŕ quyền lực cho đến chết - theo đúng nghĩa, với ước mong không bị mất quyền khi c̣n sống, sau khi ḿnh tắt thở diễn biến ra sao cũng mặc.
Với một sự trùng hợp ngẫu nhiên, thời gian cuối đời này, Mao chứng kiến cái chết của nhiều nhân vật từng gắn bó với ḿnh, từ Bành Đức Hoài, Vương Minh, Hạ Long, Chu Đức, Khang Sinh, đến Chu Ân Lai, Tưởng Giới Thạch...Bảy cái chết của những nhân vật này gợi lại các mối quan hệ khác nhau với Mao.
2-. Cũng trong thời gian 3 năm cuối của Mao, cuộc đấu tranh khi ngấm ngầm khi quyết liệt diễn ra giữa 2 thế lực: một bên là ''liên minh bộ ba'' gồm Đặng Tiểu B́nh - Chu Ân Lại - Diệp Kiếm Anh với một bên là '' lũ bốn tên '' gồm Giang Thanh - Trương Xuân Kiều - Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn. Cả 2 bên đều tự nhận là trung thành, chí cốt với Mao, đứng về phía đảng, dân tộc, nhân dân và cách mạng.
Thái độ của Mao trong thời gian này biến chuyển theo kiểu chập chờn lên xuống thất thường không dứt khoát, nhưng theo xu hướng gắn bó chặt với ''lũ bốn tên'' do chính Mao đẻ ra, với Cách mạng Văn hoá do chính Mao đề xướng, để rồi buộc phải từ bỏ dần những quái thai tệ hại ấy, đi đến nhượng bộ từng bước ''liên minh bộ ba'' được công luận và quần chúng ủng hộ ngày càng mạnh mẽ, với cuối cùng là lời trối trăn trứ danh: lật đổ, đảo chính cũng được, nhưng hăy dành cho vợ ta và lũ chúng nó (chỉ lũ 4 tên), nhưng phải để sau khi ta chết đă !
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/gang_4.jpg
“Lũ bốn tên”: (hàng trên) Vương Hồng Văn, Trương
Xuân Kiều, (hàng dưới) Diêu Văn Nguyên, Giang Thanh
3-. Dưới đây là những diến biến cụ thể.
Từ tháng 5-1972, bác sĩ phát hiện Chu Ân Lai bị ung thư bọng đái, báo cáo với Mao. Mao ra lệnh: giấu kín Chu và gia đ́nh Chu, không được mổ v́ Chu đă cao tuổi; đến tận tháng 5-1974 - 2 năm sau, bệnh quá nặng, Chu đái ra máu nhiều, Mao mới cho mổ th́ quá muộn rồi. Thật ra Mao có mối thâm thù với Chu là vào những năm 1931-32, khi Chu là thường trực bộ chính trị của đảng Cộng sản đóng ở Thượng hải, Chu đă ra quyết định khai trừ Mao ra khỏi đảng v́ Mao để cho quân lính có những hành động thổ phỉ ở vùng Giang Tây. Sau này Chu đă cúi đầu phục vụ Mao hết mức, nhưng mối hận cũ Mao không quên. Mao chỉ muốn Chu chết trước ḿnh và giữ cho Chu không phản ḿnh khi Chu c̣n sống.
Thế là ngay khi Chu ốm nặng, Mao triệu tập 300 cán bộ cấp cao đưa ra một tài liệu từ năm 1932 lấy từ báo Thượng Hải lá thư công khai từ bỏ đảng CS kư tên bí danh của Chu lúc ấy, và bắt Chu kiểm thảo. Chu bị nhục, mất ngủ suốt mấy đêm, viết những lời tự sỉ vả ḿnh và thề trung thành đến cùng với Mao. Để thấy Mao thâm độc chừng nào khi Chu từng phục vụ Mao như một tên nô lệ, theo dư luận nhận xét.
Vẫn chưa hết. ngày 22-6-1973 hiệp ước Mỹ - Xô được kư về ngăn ngừa cuộc chiến tranh hạt nhân, thế là Mao dồn tất cả giận dữ lên đầu Chu. Sau đó Mỹ quay lại không từ bỏ sự công nhận chính quyền Đài Loan như Kissinger từng hứa với Chu, Mao cũng gọi Chu đến mắng mỏ. Thái độ quá đáng của Mao đă là giọt nước làm tràn ly, và cuối cùng Chu đă tách ḿnh dần ra khỏi Mao và ''lũ bốn tên'' để gắn gó ngày càng chặt với Đặng Tiểu B́nh và Diệp Kiếm Anh thành ''liên minh bộ ba'', theo cách gọi của giới tướng lănh hồi ấy.
Chu c̣n rất cay v́ bị Mao đối xử ác độc. Vợ chồng Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu (Deng Yong Chao) không có con, có một con nuôi rất cưng là Tôn Duy Thể (Sun Wei Shi), phiên dịch tiếng Nga và tiếng Anh loại xuất sắc. Tôn lại đẹp kiểu kiêu sa quư phái, Mao có lần tán tỉnh không được. Trong cao trào chống xét lại Liên Xô, Giang Thanh vốn ganh ghét với Tôn mang cô ra đấu, cô bị tra hỏi về những cuộc dịch cho Staline, bị nhục h́nh và chết thảm trong tù.
4-. Thời gian cuối của Mao cũng được đánh dấu bằng thái độ luôn lo sợ Liên Xô tấn công xâm lược hay hăm hại ḿnh. Nỗi lo này ngày càng lớn kể từ dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Mười ở Moscow năm 1964 khi nguyên soái Malinopski rỉ tai Chu và nguyên soái Hạ Long gợi ư gạt bỏ Mao như Liên Xô vừa gạt bỏ Khrouchtchev. Từ đó quan hệ Trung - Xô đóng băng, Hạ Long và mấy trăm bộ hạ bị tra tấn cầm tù đến chết. Tháng 6-1969 Hạ Long chết trong tù sau khi bị tra khảo và tra cung hàng trăm lượt. Tháng 6-1975 vợ con Hạ Long tổ chức truy điệu chồng và cha, Mao ra lệnh không được đọc diễn văn và không được có ṿng hoa nào trong cuộc truy điệu. Thế nhưng lệnh Mao không được tôn trọng nữa và chính Chu Ân Lai đến dự và đọc điếu văn.
Mao sợ Liên Xô đến mức từ cuối 1964, không một cán bộ Trung quốc nào được sang Liên Xô; và cuối 1975 khi đoàn Liên Xô sang Bắc kinh để đàm phán về vấn đề biên giới 2 nước sau xung đột quân sự trên sông Issouri năm 1969, Mao phải sơ tán xuống Hoa Nam, luôn ở dưới hầm tránh bom nguyên tử. Mao tính rằng từ Ngoại Mông đến biên giới Trung Hoa chỉ 5 trăm kilômét lại bằng phẳng, xe tăng Liên Xô có thể tiến công sang nên Mao ra lệnh dựng lên nhiều dăy ''núi nhân tạo'', cao chừng 30 , 40 mét, rộng chừng 4 , 5 trăm mét ở bên ngoài Bắc kinh, cho đến phía ngoài khu Trung Nam Hải, tốn nhiều công sức của quân lính và dân công.
5-. Sang năm 1974 cách mạng văn hoá đă chấm dứt, các trường học đă mở lại, nhưng không ai được nhận định cuộc cách mạng ấy là sai lầm và thất bại. ''Lũ bốn tên'' vẫn được Mao bảo vệ, bọn Giang Thanh vẫn lộng hành.
Giang Thanh vẫn sống trong xa hoa, kiêu ngạo và buông thả. Giang từng nịnh Mao đến độ vênh váo: ''Tôi là con chó của Mao chủ tịch, chủ tịch bảo tôi cắn ai là tôi cắn''; Giang mê chơi chụp ảnh, dùng những ống kính đắt tiền nhất; Giang từng bắt hải quân cho 4 tàu chiến biểu diễn trên biển và pháo binh bắn đạn thật để chụp ảnh chơi; Giang bắt các cô phục vụ ḿnh luôn quỳ, cúi rạp đầu, không được để đầu cao hơn đầu ḿnh; nghĩ rằng các bà được truyền máu thanh niên sẽ khoẻ lên mọi mặt, nhất là về sinh lư, Giang lệnh cho bốn thanh niên hầu cận để bác sĩ của Giang lấy máu truyền cho ḿnh, khi Mao biết được liền ra lệnh cấm; Giang bắt xây bể tắm lấy nước từ suối cách xa gần chục kilômét; Giang c̣n bắt người phục vụ đuổi bắt hết chim, ve sầu ở quanh nhà để bà lớn ngủ được yên...
Trong năm 1975, Mao c̣n nhượng bộ ''lũ 4 tên '' cử Trương Xuân Kiểu, mưu sĩ thâm hiểm được gọi là ''Rắn hổ mang'' - Cobra , làm phó cho Chu trong việc nắm chính quyền và nắm quân đội, nhưng bị Chu từ chối, cho Mao biết Trương từng làm việc cho cơ quan t́nh báo Quốc dân đảng.
6-. Từ sau sinh nhật lần thứ 80 tháng 12-1973, sang năm 1974 sức Mao giảm sút trông thấy. Mắt như mù hẳn, chân đi không vững, phải ăn nằm nghiêng trên giường. Tháng 7-1974 Mao đi nghỉ ở phía Nam trong 9 tháng. Các bác sĩ phát hiện Mao đă mắc một bệnh hiếm có, hiểm nghèo. Đặc điểm của căn bệnh này là một số tế bào thần kinh bị hủy hoại dần không ngăn chặn được, liệt từ bắp thịt chân tay, lên đến liệt họng, lưỡi, không nhai, không nói, không nuốt được, cuối cùng là liệt phổi đến tắt thở. Bệnh này gọi là bệnh Charcot, cực hiếm nhưng chưa có cách chữa, diễn biến trong 2 năm là chết. Chu và một số lănh đạo chủ trương không để Mao biết, cũng không cho '' lũ bốn tên '' biết chuyện này.
7-. Trên giường bệnh Mao được biết Bành Đức Hoài chết trong tù ngày 29-11-1974. Bành là tử thù của Mao dám chống Mao quyết liệt nhất ở Lư Sơn. Mao ra lệnh không được báo tin ngày chết của Bành, cũng như trước đó Lưu Thiếu Kỳ chết ngày 12-11-1969 ở trại tù Khai Phong, Mao cũng ra lệnh không được loan tin, không có lễ tang hay lễ kỵ mấy năm sau, dù Lưu từng là Chủ tịch nước.
Ngày 5-4-1975, Tưởng Giới Thạch, tổng thống và lănh tụ Quốc dân đảng chết ở Đài Bắc, thọ 89 tuổi; được tin Mao có thái độ hơi khác thường. Suốt cả ngày Mao gần như không ăn uống, mở băng ghi âm nghe nhạc buồn, cả ngày không gặp một ai, có lúc c̣n lau nước mắt. Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng từng hợp tác kháng Nhật, Mao có lúc ở trong cơ quan lănh đạo Quốc dân đảng, nhưng cũng nói, viết không biết bao nhiêu câu chửi rủa Tưởng nặng lời nhất. Thật khó hiểu. Chỉ biết rằng Mao coi kẻ thù dân tộc, kẻ thù giai cấp nhẹ hơn kẻ thù trong nội bộ đảng, nhẹ hơn những đồng chí cộng sản cũ của ḿnh rất nhiều.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/liuzhoudeng.jpg
Đặng Tiểu B́nh cùng Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai
8-. Giữa năm 1975 , Mao để Đặng Tiểu B́nh từ nơi quản thúc trở về giúp Chu Ân Lai, v́ việc quản lư nhà nước quá tŕ trệ. Đặng rất cay đắng với cách mạng văn hóa tàn phá đất nước, phá nát đảng, sắn tay cùng Chu ổn định t́nh h́nh, khôi phục sản xuất b́nh thường ở thành thị và nông thôn. Đặng rất bất b́nh với Mao, chống '' lũ bốn tên '' nhưng không dám đi xa hơn.
Đặng rất chê Chu đă tỏ ra cơ hội, mềm yếu trong chống bất công, c̣n tham gia thanh trừng tàn bạo theo lệnh Mao, nhưng nay thấy Chu có phần tách khỏi Mao, bất b́nh với '' lũ bốn tên '', nên đứng ra liên kết với Chu và Diệp Kiếm Anh, h́nh thành nhóm ''liên minh tay ba'', theo cách gọi hồi ấy của một số tướng lĩnh tiến bộ. Diệp từ 4 năm nay không mặn mà với cách mạng văn hóa, bị Mao bắt về hưu v́ lư do sức yếu, nay thấy t́nh h́nh chuyển biến, liền quay lại chính trường. Nhà Diệp nhộn nhịp suốt ngày, các tướng lĩnh và sĩ quan tiến bộ nôn nóng muốn sớm loại bỏ lũ bốn tên tập hợp ở đây. Diệp nói chuyện thân mật với các sĩ quan, không gọi Mao là Mao chủ tịch như trước mà gọi là ''người số 1'', c̣n nói theo tiếng Anh là ''năm bơ oăn'' (number one). Các viên tướng đ̣i hành động gấp, Diệp ch́a ngón tay cái ra xoay 1, 2 ṿng rồi chỉ xuống đất, ư nói để khi Mao chết đă.
Liên minh tay ba Đặng - Chu - Diệp ngày càng có ưu thế, đến độ có lúc Đặng đập bàn quở mắng Giang Thanh về các tội vô kỷ luật, ''làm trái lời Mao chủ tịch''. Mao vẫn không chịu thừa nhận cách mạng văn hóa là sai lầm, c̣n cố đưa Vương Hồng Văn vào chính quyền để làm phó cho Chu nắm cả quân đội. Chu bỏ mặc Vương ngồi đó mà không giao một việc ǵ.
9-. Tháng 5-1975, Mao dự cuộc họp bộ chính trị cuối cùng trong đời ḿnh. Mao thều thào nói, rất khó nghe. Nhiều lúc không hiểu Mao muốn nói ǵ. Mao kêu gọi: hăy giữ đoàn kết, xin đừng chia rẽ, chớ là kẻ xét lại..., chớ có âm mưu... rồi cuối cùng nói như trăn trối với số ngồi cạnh, trong đó có Đặng và Chu : nếu có tính đến một cuộc đảo chính th́ hăy dành cho mụ vợ ta và lũ chúng nó (chỉ lũ bốn tên), sau khi ta chết (in ngiêng trong sách).
10-. Chu bị ngất xỉu rồi chết ngày 8-1-1976, thọ 78 tuổi. Mao lo sợ nhân tang lễ của Chu t́nh h́nh sẽ diễn biến xấu cho ḿnh, liền ra lệnh quản thúc Đặng. Thế là Đặng lại bị giam lỏng một lần hơn 3 tháng nữa. Mao cử Hoa Quốc Phong một con người mờ nhạt chỉ biết vâng dạ ḿnh thay Chu làm thủ tướng và cử tướng Trần Tích Liên, một viên tướng c̣n mờ nhạt hơn nữa nắm quân đội.
11-. Đầu tháng 6-1976 Mao bị liệt họng và lưỡi, khó thở rồi bị một cơn đau tim nặng, bước vào thời kỳ hấp hối, chỉ thở bằng máy; tử thần đă gơ cửa. Cũng vào lúc này, Chu Đức chết vào ngày 6-6-1976, thọ 90 tuổi. Chu Đức là Nguyên soái đứng đầu 10 vị nguyên soái của Hồng Quân từng bị Mao kết bè với Lâm Bưu để hạ thấp trong cuộc trường chinh. Trong cách mạng văn hóa, Mao để cho Chu bị đấu rất tàn nhẫn rồi cho về nghỉ hưu trong bần hàn và cô đơn. Mao rất e ngại uy tín và đức tính thẳng thắn ngay thật của Chu Đức. Mao sợ tang lễ Chu Đức sẽ tạo nên rối loạn. Sau khi lễ tang ổn, Mao mới đồng ư cho Đặng trở về.
Đặng trở thành người hùng của Trung quốc từ đó và nhất là sau khi Mao chết. Đặng (1904 - 1997) là người Tứ Xuyên, từ tuổi trẻ đă di cư sang Pháp lao động và học tập. Đặng cùng Chu Ân Lai vào đảng cộng sản tại Pháp rồi sang Liên Xô hoạt động. Đặng nhỏ nhắn, chỉ cao 1 mét 55, thông minh, chơi bài bridge khá cao. Đặng tham gia cuộc trường chinh, năm 1949 chỉ huy chiến dịch lớn Hoài - Hải, Nam tiến giải phóng miền phía Nam sông Dương Tử. Năm 1955 Đặng vào Bộ chính trị, làm tổng bí thư từ năm 1956 đến năm 1966, bị gạt khỏi quyền lực trong cách mạng văn hóa, đến năm 1975 trở lại giúp Chu Ân Lai ít lâu, năm 1976 lại bị quản chế 3 tháng, để tháng 6-1976 lại trở lại tham gia xoay chuyển t́nh thế.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/Mao-Butto.jpg
Mao tiếp Thủ tướng Bhutto (1976): Tàn tạ!
12-. Trên giường bệnh Mao vẫn muốn tiếp khách để chứng tỏ ḿnh vẫn c̣n là nhân vật lớn trên thế giới. Ba tháng trước khi tắt thở Mao c̣n gặp Julie Nixon, con gái tổng thống Nixon bị truất phế sau vụ Watergate, đến chào, trên ngực mang huy hiệu h́nh Mao; Mao sung sướng như trẻ nhỏ lắc tay Julie hồi lâu. Sau đó là đoàn khách Thái lan đến, khi Mao đang ngáy một cách khó nhọc; rồi thủ tướng Singapore Lư Quang Diệu vào pḥng Mao, Mao ngồi trên ghế nệm, đầu ngả ra phía sau, há mồm, dăi chảy ra, ú ớ không thành tiếng. Khách cuối cùng là thủ tướng Bhutto của Pakistan vào tháng 5-1976, khi Mao thấy ảnh ḿnh chụp lúc ấy trông tiều tụy quá, Mao quyết định thôi không tiếp ai nữa.
13-. Mấy tuần lễ cuối cùng Mao được đưa sang ngôi nhà ở phía Tây trong khu Trung Nam Hải, được xây dựng gấp từ mấy năm nay cho Mao, mang tên ''Dinh 202'', rộng lớn, có thang máy đưa xuống hầm bê tông sâu chống bom nguyên tử và chống động đất. Ngay trước đó một cuộc động đất lớn xảy ra tại thị trấn công nghiệp Đường Sơn, cách Bắc kinh 160 kilômét về phía Đông, làm chết 14 vạn dân (có con số lên đến 60 vạn). Ngày 5-9 Mao lịm đi, không tỉnh lại nữa. Hoa Quốc Phong, thủ tướng thay Chu Ân Lai từ 5 tháng trước cùng một số cận thần thay nhau túc trực. Giang Thanh đứng sau rèm gần giường Mao nằm, không dám lộ mặt v́ nhiều lần thấy mặt bà là Mao nổi cơn tức giận. Không có một người con hay cháu nào ở gần Mao lúc này.
Cô Mạnh Cẩm Vân (Meng Jin Yun) là cô y tá được Mao ưa nhất có mặt đến phút chót, nghe Mao nói nhỏ: ta rất khó chịu, gọi bác sĩ . Rồi Mao lịm đi hẳn. Lúc ấy là quá nửa đêm rạng ngày 9 tháng 9- 1976, 12 giờ đêm và 10 phút.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:30 PM
XIII - Chân dung con người thật của Mao
1-. Nh́n chung con người thật của Mao là thế nào? Chân dung tinh thần của nhân vật lịch sử này ra sao?
Jung và Jon để gần 10 năm trời, đi hàng chục vạn dặm, hỏi chuyện hàng ngh́n nhân chứng sống, tra khảo hàng mấy ngh́n trang tư liệu hiếm, trong hàng chục kho lưu trữ cực quư để vẽ nên chân dung tinh thần của Mao. Có ǵ quư hơn là những trang ghi tốc kư và ghi âm những buổi đối thoại của Staline, Dimitrov, Khrouchtchev...với các nhân vật Trung Quốc như Vương Minh, Chu Ân Lai, Mao, Lưu Thiếu Kỳ... Có ǵ thú vị hơn là những mẩu chuyện sống động Jung và Jon thu được từ miệng cô bán đậu phụ bên đầu cầu sông Đại Độ hơn 60 năm trước nay là bà cụ hơn 90 tuổi, hay cuộc tṛ chuyện với nhân vật Trương Học Lương hay Trương Quốc Đào khi đă trên dưới một trăm tuổi.
2-. Mao Trạch Đông đă có hàng tỉ cuốn Mao Tuyển, hàng tỉ tỉ cuốn sách đủ thứ tiếng, truyện tranh, bài thơ, vở ca kịch, luận văn lịch sử, chính trị viết về ḿnh. Ngoài dân Trung Quốc lại con bao nhiêu đảng phái, nhóm vũ trang Mao-ít ở rừng rậm hay thành phố Á Phi Mỹ la-tinh sùng bái Mao như thần như thánh. Nhân vật vĩ đại, đại cứu tinh, anh hùng dân tộc, siêu nhân, nhà chính trị khổng lồ. Thế mà Jung và Jon cho ta một chân dung khác lạ, một Mao chưa từng biết rơ, từng chân tơ kẽ tóc, như ta thường nói, một Mao như là bằng xương bằng thịt, làm cho tỉ tỉ tài liệu và nhận thức cũ chỉ là cái bóng mờ ảo của Mao, chỉ là tấm ảnh bị loá loà méo mó hoàn toàn giả tạo, không thật. Khối người sẽ giật ḿnh. Ta đă bị lừa. Khối người sảng khoái, vỗ đùi đen đét: à ra thế, sự thật đây rồi. Mà có ǵ thích hơn, mừng hơn, sướng hơn là t́m ra sự thật, sự thật đúng như có thật, sự thật bướng bỉnh và trần trụi.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/truongchinh-1.jpg
Trong cuộc “vạn lư trường chinh”
3-. Sự thật Mao là con người ra sao? Có thể nh́n, ngắm Mao trên nhiều góc độ khác nhau. Mao như là một con người b́nh thường, với những t́nh cảm yêu ghét buồn vui. Mao như một nhà lănh đạo cộng sản, như một lănh tụ, đ̣i hỏi tài năng lănh đạo, đạo đức gương mẫu, quan hệ với đồng chí, đồng bào. Mao như một nhà lư luận với những trước tác và quan điểm, tư tưởng, sáng tạo của ḿnh. Mao trong cuộc sống gia đ́nh riêng, với cha mẹ, vợ con, cháu, anh em họ hàng gần xa của ḿnh.
Vậy th́ qua hơn 800 trang sách Những điều chưa biết về Mao, tác giả vẽ nên cho ta thấy một chân dung Mao ra sao? Tất nhiên chỉ trong khuôn khổ cuốn sách này. Không nên thêm thắt tô vẽ thêm điều ǵ khác.
4-. Về con người. Mao hiền lành hay ác độc? Mao v́ người, v́ nhân dân, v́ giai cấp vô sản cùng cực hay v́ ta, v́ bản thân ḿnh? Mao luôn có ước vọng và mưu đồ cho Trung Quốc phát triển nhanh, thật nhanh, trở thành một siêu cường rồi thành cường quốc vô địch của thế giới. Nhưng đi sâu vào ư đồ ấy vẫn nổi lên tham vọng cá nhân là động lực chính, quyền lực cá nhân Mao vẫn là mục tiêu chính. Cái ác ngự trị trong con người Mao rật đậm đặc. Trong chiến tranh Triều Tiên, Mao tính đến cái chết của hàng chục vạn binh lính trong bom đạn như một bài tính giữa phiên chợ đầy hàng hoá. Thật đáng sợ.
Mao c̣n tính đó là dịp đẩy hàng triệu binh lính cũ của Quốc dân đảng vào chỗ chết, ḿnh khỏi mất công thủ tiêu; rồi vấn đề trao đổi tù binh, Mao đ̣i đối phương trả về không thiếu một binh sĩ từng bị bắt và đầu hàng để Mao trị tội bằng hết. Thật may mà đ̣i hỏi của Mao không được chấp nhận. Các cuộc khủng bố trắng ở Giang Tây, Hồ Nam, rồi ở Diên An, rồi trong Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hoá đều được Mao trực tiếp chỉ đạo, từ treo người, xẻo tai, cắt gân chân, cho đến đầu độc Vương Minh, hành hạ vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ, tra tấn Bành Đức Hoài, Hạ Long đều được thực hiện bởi mối thù cá nhân tàn ác nhất. Mao tỏ ra dửng dưng khi số người chết do đói kém lan tràn ở nông thôn những năm 1960, 61 và 62 lên đến gần 30 triệu đồng bào ḿnh, tất cả chỉ v́ những chính sách phiêu lưu nhảy vọt, làm ḷ cao, công xă nhân dân của Mao gây nên.
5-. Mao không ngớt nói đến nhân dân, buộc đảng viên luôn tự phê b́nh, cán bộ luôn kiểm thảo t́m ra tội lỗi để sửa chữa, dạy đảng viên về tinh thần hy sinh cao độ, v́ dân v́ tập thể, v́ vô sản toàn thế giới, nhưng Mao lại sống một cuộc sống hoàn toàn v́ cá nhân ḿnh, cho cá nhân ḿnh, một cuộc sống ích kỷ cao độ, hoàn toàn đạo đức giả. Nói một đằng làm một nẻo đă thành nếp sống của Mao. Mao bảo người khác, dạy người khác làm điều hay, điều phải nhưng bản thân th́ không làm, c̣n làm trái lại. Mao không bao giờ tự phê b́nh, nhận ra sai lầm của ḿnh để sửa chữa. Như Đại nhảy vọt, cách mạng văn hoá sai rành rành rơ ràng nhưng Mao vẫn sĩ diện kéo dài. Trong cuộc trường chinh, Mao chuyên nằm trên vơng gần như suốt cả năm. Nơi Mao ở được thiết kế công phu theo sở thích riêng của Mao. Mao chuyên ăn cơm riêng trong pḥng riêng của ḿnh, với hàng chục người đứng phục vụ, với những cao lương mỹ vị quư hiếm nhất. Mao sống cuộc sống như một hoàng đế xưa. Xung quanh phải diệt hết chó mèo, ếch nhái, gà qué để không ảnh hưởng giấc ngủ. Đoàn tàu đặc biệt của Mao đến đâu là cấm xe cộ ở quanh hàng buổi. Mao ưa thức đêm, ngủ ngày, buộc cận thần phải theo thời gian biểu của ḿnh. Nửa đêm Mao triệu tập bộ chính trị đến ngồi quanh ghế đệm Mao ngồi hay quanh giường Mao nằm.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/BoChinhtri1938.jpg
Bộ chính trị 1938 hầu hết bị hăm hại v́ tính đa nghi của Mao: (từ trái sang) Mao, Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường, Lạc Phủ, Chu Đức, Bác Cổ, Vương Minh, Khang Sinh, Hạng Anh, Lưu Thiếu Kỳ, Trần Vân, Chu Ân Lai
6-. Đặc tính của Mao là đa nghi, v́ biết ḿnh làm nhiều điều bất công, thất đức, quái ác nên luôn sợ bị trả thù ám hại. Do đa nghi nên Mao trừng trị tra khảo oan ức biết bao đồng chí của ḿnh. V́ nghi Hạ Long có âm mưu cùng Liên Xô hăm hại Mao hành hạ tra tấn Hạ Long và hàng trăm người từng quen thân Hạ Long. Mao nhiều lần nghi Đặng Tiểu B́nh lật đổ ḿnh nên loại bỏ Đặng khi bắt đầu cách mạng văn hoá, sau c̣n quản chế và giam lỏng Đặng hai lần nữa, mà thật ra Đặng không có âm mưu lật Mao. Mao c̣n nghi Liên Xô có ư định kéo quân sang bằng bộ binh, xe tăng, cả ném bom bằng không quân, cho đến cả bom nguyên tử, để bắt dựng hàng hàng ''núi nhân tạo'', nhiều lúc xuống hầm sâu, đi tránh về phía Nam. Càng về già Mao lo sợ bị ám sát, hay giật ḿnh khi nghe tiếng động lạ, thấy người lạ, cho nên quy định ai đến gần phải nói to vừa phải - to quá hay thầm th́ đều làm Mao hoảng sợ, phải báo trước, có người dẫn vào.
7-. Đặc tính khác rất sâu đậm ở Mao là giữ thù riêng, thù cá nhân rất dai dẳng. Ta thường gọi là thù dai. Mao quyết trả thù cá nhân đến cùng. Chu Ân Lai phục vụ Mao hết ḿnh, như một kẻ nô lệ, thế mà Mao nhớ măi chuyện từ những năm 1930 Mao đă bị Chu thi hành kỷ luật v́ Mao để quân lính cướp phá dân như thổ phỉ, để hành hạ Chu, không cho Chu mổ, bắt Chu phải chết trước ḿnh và bắt Chu kiểm điểm về một bài báo từ năm 1932. Mao c̣n thâm thù Vương Minh, Bành Đức Hoài và Lưu Thiếu Kỳ và t́m cách hành hạ ba người này cho đến chết với những cực h́nh rùng rợn nhất mới hả dạ.
8-. Ở Mao cũng nổi lên sự dối trá, dối trá có hệ thống, có nghệ thuật. Tất cả những chuyện Mao kể cho Edgar Snow về cuộc đời hoạt động của ḿnh và về cuộc trường chinh th́ phần lớn là thêu dệt và bịa đặt. Trái với điều Mao kể, Hồng quân không hề có chuyện có nhiều chiến công đánh Nhật hơn là quân Quốc dân đảng. Trong cuộc trường chinh việc đánh quân Quốc dân đảng cũng rất ít v́ chính Tưởng Giới Thạch gián tiếp quy định hành tŕnh và khu vực dành cho Hồng quân. Trận đánh oai hùng Mao kể diễn ra rực lửa ở cầu Đại Độ là chuyện hoang đường do Mao bịa đặt trăm phần trăm, bị nhân chứng c̣n sống là bà cụ bán đậu phụ ở quán hàng ngay đầu cầu ngày xưa bác bỏ.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/CauDaiDo.jpg
Chiến thắng cầu Đại Độ: sự dối trá vĩ đại
9-. Trong cuộc sống gia đ́nh, Mao tỏ ra rất ít t́nh cảm. Mao tỏ ra tự thương ḿnh nhất, tự yêu ḿnh nhất.
Bà vợ thứ nhất là ''cô La'' (họ La) cưới khi Mao 15 tuổi cô La gần 20 tuổi, đến khi 22 tuổi th́ cô La chết.
Bà vợ thứ hai là Dương Khai Tuệ, sinh năm 1901, con thầy giáo của Mao ở Trường Sa (Hồ Nam), có học, sanh với Mao ba con trai là Mao Ngạn Anh, Mao Ngạn Thanh và Mao Ngạn Long; Ngạn Anh sang Nga học về làm phiên dịch cho Bành Đức Hoài ở Triều Tiên, chết trong một trận ném bom của Mỹ. Ngạn Thanh bị bệnh tâm thần bẩm sinh, sang Nga cùng Ngạn Anh rồi ở lại trong trại tâm thần (mới chết gần đây theo báo Nga, thọ gần 80 tuổi); con út là Ngạn Long chết khi 4 tuổi ở Thượng Hải. Dương Khai Tuệ bị Quốc dân đảng bắt ở Trường Sa rồi bi giết ngày 14-11-1930. Năm 1990 ở Trường Sa phát hiện 8 lá thư của Dương Khai Tuệ viết trước khi chết được giấu và bảo quản kỹ gói trong giấy dầu gắn trong tường, lời rất t́nh cảm, thương nhớ Mao và 3 con, mong Mao từ bỏ chủ nghĩa cộng sản hung bạo.
Vợ thứ ba của Mao là Hạ Tử Trân, bí danh là Quế Viên, xuất thân gia đ́nh tiểu thương tiểu chủ, lấy Mao năm 1928 khi 18 tuổi, có với Mao 7 con, kể cả 2 lần xẩy thai trên đường hành quân, đến mức có lần Mao bảo vợ ḿnh sinh đẻ như gà. Hạ cùng dự cuộc trường chinh với Mao, đi ngựa, đi bộ, nằm vơng, mặc quân phục hồng quân, mũ kết có sao đỏ, cầm súng, có lần bị thương nặng ở vai. Hạ sống với Mao ở Diên An. Khi Mao có t́nh ư với Giang Thanh là diễn viên ca kịch từ Thượng Hải mới đến Diên An vào năm 1937, Mao liền cho Hạ đi sang Nga để dưỡng bệnh khi Hạ vừa có mang, để lại con gái nhỏ tên là Li Mẫn (Ly Min) sinh năm 1936, c̣n gọi là '' Kiều - Kiều '' (Chiao Chiao). Ở Moscow năm 1938 Hạ sinh con trai, rất giống Mao, đặt tên là Lyova, được 6 tháng th́ chết v́ sưng phổi. Năm 1939 Hạ biết Mao lấy vợ khác khi t́nh cờ xem phim thời sự do Karmen quay từ Diên An gửi về trong đó Giang Thanh được giới thiệu là ''Bà Mao'', Hạ lên cơn tâm thần rồi sức khỏe suy sụp. Năm 1940 Mao cho Chiao Chiao sang Moscow ở với mẹ. Chiao Chiao mừng nhưng bệnh mẹ cô ngày càng nặng, hay đánh mắng con khi lên cơn. Về sau hai mẹ con về Trung Quốc, Mao không gặp Hạ, không cho Hạ đến Bắc Kinh, bà sống cô đơn ốm yếu cho đến chết (1984) khi 74 tuổi. Chiao Chiao có hồi đến Bắc Kinh gặp Mao, Mao muốn cô quan tâm đến chính trị nhưng cô không theo ư muốn ấy, thế là Mao cấm cửa, không cho cô đến gặp nữa.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/DuongKhaiHuy.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/He_Zizhen.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/jiangqing4.jpg
Dương Khai Tuệ, Hạ Tử Trân, Giang Thanh
Vợ thứ tư là Giang Thanh, trên đă nói về con người này. Giang ở với Mao lâu nhất, gần 40 năm. Mê mệt nhau rất sâu sắc rồi cay đắng v́ nhau cũng nhiều, làm hại nhau cũng lắm, đi đến ghét bỏ và thù hận nhau cho đến chết. Giang là công cụ chính của Mao trong cách mạng văn hoá, Mao cho Giang vào bộ chính trị, đứng đầu Tiểu tổ cách mạng văn hoá với quyền sinh quyền sát kinh người, để rồi Mao không thèm nh́n mặt Giang và đồng t́nh triệt hạ trừng phạt Giang sau khi ḿnh chết yên ổn. Đầu năm 1977, Giang cùng ''lũ 4 tên'' bị bắt, khai trừ khỏi đảng, ra trước vành móng ngựa, Giang bị tội tử h́nh rồi chuyển xuống chung thân; bà tự sát trong tù, thắt cổ vào năm 1991.
Giang có với Mao một con gái, đẻ ở Diên An ngày 3-8-1940, đặt tên là Lư Nạp (Li Na). Li Na được nuông chiều, kiêu ngạo, trong cách mạng văn hoá Giang và Mao cho Li Na làm chủ bút báo quân đội. Li Na tự phụ hống hách, có lần bắt tướng tá lớn tuổi giơ tay chào ḿnh kiểu nhà binh. Li Na khó lấy chồng, 31 tuổi đành lấy một anh hầu hạ Mao, cả Mao và Giang không đồng t́nh, không dự đám cưới, cho là anh ta thuộc loại hèn kém; khi Li Na sanh con trai, Giang không bao giờ bế, Mao cũng không ưa ǵ cháu ngoại.
10-. Về bạn bè hầu như cả cuộc đời Mao không có bạn, chưa nói ǵ đến thân thiết. Bạn theo đúng nghĩa, hợp với ḿnh, để tâm sự, trao đổi tâm t́nh. Mao như chẳng viết thư cho ai. Việc ǵ cũng tự ḿnh giải quyết. Mao chỉ có ''bạn'' theo mưu đồ riêng, kết liên minh với kẻ này để cô lập, hăm hại kẻ khác, ''bạn'' theo từng thời kỳ, giai đoạn. Tin cậy Bành Đức Hoài cử Bành làm tư lệnh quân t́nh nguyện rồi quay lại coi Bành là tử thù. Gắn với Lưu Thiếu Kỳ, cử Lưu làm chủ tịch nước rồi quay lại dùng cực h́nh với Lưu. Liên minh với Lâm Bưu, đề cao Lâm, nâng Lâm thành người kế thừa ḿnh, rồi quay sang đe dọa trừng trị Lâm đẩy Lâm phải chạy trốn. Không một ai là bạn dài lâu của Mao. Đây cũng là một nét khác thường trong chân dung tinh thần của Mao.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/maogirls.jpg
…như những hoàng đế Trung hoa dâm dật nhất
11-. Về mặt hoạt động sinh lư Mao có những nét độc đáo. Bành đă nhân xét Mao có cung tần mỹ nữ quanh ḿnh như những hoàng đế Trung hoa dâm dật nhất. Trong hàng ngũ cán bộ quan chức cộng sản thời nay, không ai có hoạt động sinh lư gấp gáp, vô độ, bất kể đạo đức, bất cần dư luận như Mao. Mao cho tuyển những cô văn công quân đội, văn công binh chủng không quân, 17, 18 tuổi, bằng con bằng cháu ḿnh, ít hơn Mao đến 35, 40 tuổi cũng không từ. Mao c̣n cho thiết kế ngay trong Đại lễ đường Nhân dân một pḥng riêng của ḿnh để giữa những cuộc họp trung ương, giữa đại hội đảng vẫn có thể hú hí với gái trẻ khi muốn, Mao c̣n hướng dẫn đóng giường gỗ quư dài rộng, lót nệm lông quư, có độ nghiêng, để cùng một lúc làm t́nh với 2, 3 cô, với các loại tư thế khoái cảm nhất. Về mặt này, có thể coi Mao là quán quân quốc tế của mọi thời đại. Cá nhân ích kỷ về sinh lư của Mao càng thêm nặng khi dưới chế độ Mao, việc quan hệ nam nữ cực kỳ nghiêm khắc, một vợ một chồng là triệt để, cán bộ viên chức phần lớn chỉ được gần nhau 12 ngày đêm mỗi năm.
12-. Cũng không thể bỏ qua một nét nữa không giống ai của Mao, đó là một số nét hủ lậu kiểu nông dân cổ lỗ. Mao không đánh răng bằng bàn chải và xà pḥng đánh răng; chỉ xỉa răng và lấy bă chè xúc miệng. Mao hầu như không tắm chỉ lấy khăn nhúng nước ấm lau ḿnh. Mao không quen ngồi bệ vệ sinh để đi cầu, mà chuyên ngồi xổm như khi c̣n ỉa ngoài đồng. Mao không muốn học một ngoại ngữ nào, hoàn toàn mù ngoại ngữ giữa thời toàn cầu hoá; ngay tiếng bạch thoại đúng kiểu Bắc kinh Mao cũng ngọng, nói theo giọng Hồ Nam. Mao không hề đi một nước nào khác ngoài hai lần đến Moscow gặp Staline và họp các đảng cộng sản năm 1949 và năm 1957.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/mao.jpg
Tên đồ tể không tiền khoáng hậu
Có lẽ do sự hủ lậu, khép kín, tự măn như thế mà tư tưởng của Mao cũng cổ lỗ tăm tối, thiển cận theo, như chủ trương dựng ḷ cao ở sân nhà nông dân và đánh trống chiêng phèng la và ḥ hét để diệt chim sẻ, nhằm vượt nước Anh và vượt Nhật bản sau đó.
13-. Nhưng nét trội nhất trong con người của Mao mà ít người biết đến là ǵ? Ngay từ trang mở đầu và đến trang b́a sau cùng của cuốn sách, Jung và Jon đều đưa ra con số 70 triệu người chết mà Mao đă trực tiếp và gián tiếp gây nên, mà Mao phải chịu trách nhiệm trước lịch sử Trung Quốc và lịch sử loài người. Tác giả không đưa ra con số ấy một cách tùy tiện, phỏng đoán. Trong cuốn sách, mỗi sự kiện, mỗi nhận định, mỗi con số đều được cân nhắc, thẩm tra, có bằng chứng, nhân chứng hẳn hoi, như trong một công tŕnh lịch sử và khoa học chính xác. Tác giả đă thống kê và cộng lại vô vàn nạn nhân của thanh trừng và chiến tranh, khủng bố trắng và cải cách ruộng đất, đại nhảy vọt và cách mạng văn hoá, chiến tranh Triều Tiên, biên giới Trung - Xô và chiến tranh Trung - Việt năm 1979, nạn nhân của nạn đói hoành hành triền miên hàng chục năm, mấy triệu nạn nhân diệt chủng của Pôn Pôt theo học thuyết của Mao, và vô vàn nạn nhân của các đảng, các nhóm từng suy tôn Mao là bậc thầy, từ châu Á sang châu Phi và Mỹ la tinh, áp dụng học thuyết đấu tranh giai cấp là động lực cơ bản của xă hội loài người, chính quyền từ đầu ngọn súng..
Cuộc sống con người là của quư nhất. Một mạng sống là vô giá. Riêng Mao chịu trách nhiệm về 70 triệu mạng sống bị hủy diệt. Có ai trên cuộc đời này, cổ kim đông tây, có ai tham gia giết người nhiều đến vậy, kinh khủng đến vậy? Hit-le thua xa. Staline kém xa. Tần Thủy Hoàng như bé lại.
Lời kết của cuốn sách chỉ có 2 câu ngắn, chưa đến 3 gịng rưỡi:
'' Ảnh và thi hài của Mao vẫn ngự trị tại quảng trường Thiên An Môn, giữa trái tim của thủ đô Trung Quốc. Chế độ cộng sản hiện tại vẫn tự nhận kế thừa Mao, và vẫn ra sức kéo dài huyền thoại về Mao ''.
Một lời kết luận tra vấn sự mụ mị của mỗi người bất cứ ở đâu đến nay vẫn c̣n mù quáng lầm lẫn và hoang tưởng về Mao.
(c̣n nữa...)
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
adams
03-12-2011, 01:32 PM
XIV - Mao với Việt nam
1-. Mao là một nhân vật không xa lạ ǵ với người Việt nam chúng ta. Đảng viên đảng cộng sản, cán bộ nhà nước, học sinh, sinh viên, già trẻ lớn bé đều nhiều lần nghe nói về ''Chủ tịch Mao Trạch Động'', ''đồng chí Mao Trạch Đông'', ''lănh tụ Mao Trạch Đông'', ''cụ Mao'',''bác Mao'', ''ông Mao'', hay cả '' Mao Chủ Xí '', '' Mao xếnh xáng '', ''Mao Xế Tủng ''...với những mức độ t́nh cảm khác nhau.
Có thời Mao có mặt đậm nét ở nước ta. Hầu như nhà nào cũng có ảnh Mao. Ở cơ quan, ảnh lớn của Mao cạnh ảnh lớn của Staline là bắt buộc. Sách của Mao chiếm vị trí hàng cao nhất trong mọi thư viện và tủ sách. Mâu thuẫn luận, Thực tiễn luận, Tŕ cữu chiến, Bàn về chủ nghĩa Dân chủ mới... của Mao được coi là sách kinh điển. Rồi Mao Trạch Đông tuyển tập', Sách b́a đỏ cầm tay (Mao tuyển), huy hiệu Mao đỏ chót, nhỏ hay có khi to bằng miệng bát, có mặt khắp nơi.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/carroll2.jpg
Mao tuyển
Biết bao bài thơ ca ngợi Mao, từ Tố Hữu đến Hoàng Trung Thông, Bảo Định Giang, rồi Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư ... Mao là mặt trời, là cứu tinh, là ngôi sao sáng nhất, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng, là người Ông hiền từ, là người Bác nhân ái, là vị lănh tụ anh minh. Đoàn nhà văn Việt nam thăm Hồ Nam, đoàn Văn công quân đội sang Bắc Kinh quay phim Xô viết Nghệ Tĩnh được gặp Mao, những bài báo, luận văn kể lại được nh́n thấy Mao, được cầm tay Mao, được tận tai nghe được lời Mao nói, được nhận một điếu thuốc từ tay Mao là những nỗi niềm hạnh phúc quư báu nhớ đời.
2-. Trong các cuộc chỉnh huấn, kiểm thảo, trong cải cách ruộng đất, các lớp học trường đảng Nguyễn Ái Quốc, lời Mao dạy về đấu tranh giai cấp, về chính quyền từ họng súng, sùng bái đấu tranh vũ trang, đề cao bần cố nông, sỉ vả trí thức tư sản không bằng cục phân... được coi là những chân lư tuyệt đối và vĩnh cửu.
Tại Đại hội đảng lần thứ II ở Việt Bắc tháng 2- 1951, ông Hồ Chí Minh từng chỉ tay lên ảnh Staline và ảnh Mao treo cao trên hội trường và nói: ''hai vị lănh tụ này của chúng ta không bao giờ phạm sai lầm, Bác có thể bảo đảm chắc chắn như thế''. Đến Đại hội đảng cộng sảnlần thứ III tháng 9-1960 ở Hànội, tư tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ của đảng làm ''nền tảng lư luận và tư tưởng''.
3-. Trong Đại nhảy vọt của Trung quốc, ông Hồ Chí Minh là người hưởng ứng đầu tiên; ông đọc hàng ngày các báo Trung quốc, sưu tầm những tin ''hay nhất'', có nghĩa là ly kỳ - người thường khó tin nhất -, gửi ngay sang báo Nhân Dân để đăng. Như tin về nông dân xây ḷ cao trong sân nhà. Như bài Mao viết dạy rằng năng suất lúa có thể tăng gấp 3 lần không khó khăn, chỉ cần giống tốt, đủ nước, đủ phân, từ nay trồng lúa năng suất cao sẽ nhàn hạ như trồng hoa, làm vườn, diện tích có giảm một nửa vẫn thừa ăn. Một thời gian ngắn cuốn sách Kinh nghiệm Đại nhảy vọt của Trung quốc của tác giả Trần Lực (một bút danh ông Hồ) ra với số bản in cao nhất, trong đó nói về đủ thứ về sau bị coi là hoang đường, như thảm lúa năng suất gấp 5 lần b́nh thường, từng đoàn văn công nhảy trên thảm lúa mà cây lúa vẫn đứng thẳng, như diệt chim sẻ bằng chiêng trống. ''Chí Minh'' có nghĩa là cực sáng mà có lúc cũng mụ mị tin vào những chuyện nhảm nhí đến vậy th́ con cháu có mụ mị lầm lẫn cũng là dễ hiểu.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/mao-HO.jpg
Ông Hồ và Mao tại Bắc Kinh (12/1957)
4-. Đọc cuốn sách của Jung và Jon về Mao, độc giả Việt nam dễ dàng đối chiếu và liên tưởng đến Việt nam, đến đảng Cộng sản Việt nam, đến những người lănh đạo ở Việt nam v́ 2 đảng đều chung một ḷ Đệ tam quốc tế Cộng sản mà ra, cùng coi Moscow là đất thánh của ḿnh, cùng suy tôn Staline là lănh tụ đàn anh, lại cùng chung nền văn hóa khổng giáo kiểu Nho gia, chung nền tảng kinh tế tiểu nông... Gần đây, trong năm 2007 này, 4 vị tứ trụ triều đ́nh cộng sản Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, cũng như các vị cầm đầu các đại ban của trung ương đảng như Hồ Đức Việt (ban tổ chức trung ương ), Tô Huy Rứa (ban tuyên giáo) đều sang tận thủ đô đỏ Bắc Kinh để học hỏi kinh nghiệm đàn anh, và nhắc đi nhắc lại sẽ luôn theo gót chân những kẻ đang kế thừa Mao, đổi mới chứ không đổi màu...
5-. Hai đảng cộng sản Trung quốc và Việt nam sao mà giống nhau đến thế! Ví dụ khi Mao kể cho nhà văn và nhà báo Edgar Snow về cuộc chiến đấu rực lửa của Hồng quân qua cầu Đại Độ rằng 6 hàng xích sắt lớn nối 2 đầu cầu bị nung đỏ, phía trước là các ụ súng máy không ngừng nhả đạn, mà 22 Hồng quân vẫn ḅ qua mở đường, th́ người cả tin nhất cũng phải thấy có cái ǵ không ổn, không hợp lư, không thể có thật, không thể ''nuốt trôi được''. Quả nhiên đây là chuyện Mao bịa ra, dựng đứng lên để thần tượng hóa quân lính ḿnh. Ta có thể liên tưởng đến chuyện ở Việt nam ta, về em Lê Văn Tám ở cầu Thị Nghè Sài g̣n năm 1946 đă tẩm xăng vào người thành đuốc sống để chạy thẳng vào kho đạn ở phía trong doanh trại địch cách hàng trăm thước làm kho đạn nổ tung. Câu chuyện được truyền tụng suốt nửa thế kỷ, thành kịch, tranh, thành ''vườn hoa Lê Văn Tám'', ''giải thưởng Lê Văn Tám'', để rồi cuối đời tác giả của nó phải lên tiếng cải chính là chuyện bịa 100%. Triệu triệu con người đă mụ mị, kể cho nhau chuyện phi lư: làm sao bật lửa tẩm xăng vào người thành đuốc sống mà c̣n có thể bước nổi đến một bước ngắn, chưa nói đến chạy hàng trăm mét!
Cũng như mới đây chuyện nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm chiến đấu một ḿnh một súng, đọ sức một buổi với 120 lính Mỹ cường tráng, bị bắn vỡ trán c̣n hô 2 lần Bác Hồ muôn năm! Thật ra trong hồi kư của cô không hề có chuyện cô cầm súng, không hề có chuyện cô được huấn luyện để chiến đấu; mấy trang cuối cô chỉ tả nỗi lo sợ, làm sao bảo vệ mấy thương binh nặng trong khi cô mệt rũ đói lả, bộ đội địa phương huyện Đức Phổ bỏ chạy hết. Cứ theo như cuốn hồi kư th́ Trâm đă nêu cao gương hy sinh tận tuỵ, đă là đáng quư rồi. Việc tô vẽ thêm nghe theo lời kể vu vơ của một anh lính Mỹ vớ vẩn nào đó để thêm một chiến công ''dỏm'', vẽ rắn thêm chân dài, để rồi phong Anh hùng, th́ thật là quá lố! Làm hại cả một tấm gương quư, làm gia đ́nh cô khó xử, cũng làm hại uy tín Bộ quốc pḥng, nhẹ dạ khờ khạo đến vậy.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/CulturalRevolu2.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/DauTo.jpg
đấu tố kiểu TQ, đấu tố tại VN
6-. Để có những quyết định cá nhân ngông cuồng, và bắt buộc toàn đảng phải chấp nhận những ''sáng kiến'' tối tăm của ḿnh, Mao tŕ hoăn các cuộc đại hội đảng theo quy định trong Điều lệ đảng là cứ 5 năm phải họp đại hội đảng một lần; lẽ ra sau Đại hội VIII họp tháng 9-1956, th́ Đại hội IX phải họp vào khoảng tháng 9-1961, Mao tŕ hoăn cho đến tháng 8-1969 mới triệu tập đại hội IX, nghĩa là chậm đến 9 năm. Chính trong khoảng cách 13 năm ấy, Mao tự ḿnh đề ra những chính sách ngông cuồng ''Đại nhảy vọt'' và “Cách mạng văn hóa'' đưa đất nước vào t́nh trạng bi thảm.
Ở Việt nam cũng vậy. từ Đại hội đảng I (tháng 3 -1935) ở Ma Cao (Trung quốc), đến tháng 2-1951 mới họp Đại hội II ở Việt Bắc, nghĩa là cách đến 16 năm, sau đó đến tháng 9-1960 mới họp Đại hội III, cách 9 năm, rồi lại đến năm 1976 mới họp Đại hội IV, nghĩa là cách đến 16 năm. Hoàn cảnh chiến tranh không phải là lư do chính đáng, v́ chiến tranh vẫn có thể và lại càng cần họp đại hội một cách thiết thực để có những quyết định sắc bén, xác thực, tập trung trí tuệ của tập thể, tránh độc đoán, chủ quan, tùy tiện. Ở Việt nam, nếu như những vấn đề cực lớn như Cải cách ruộng đất (với đặc điểm chiếm hữu ruộng đất và phân chia giai cấp rất khác biệt ở nông thôn nước ta), cải tạo công thương nghiệp (cũng với những đặc điểm riêng ở Việt Nam ta), chính sách sau kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước (đặc biệt là chính sách với chính quyền và quân đội cũ ở miền Nam) đều không có thảo luận tập thể, một hay vài vị tự cho là thông minh sáng suốt nhất, không ai bằng, c̣n xung quanh toàn những kẻ xu nịnh tâng bốc lănh tụ, cúi đầu vâng dạ, làm sao đất nước không lạc hậu, dân không lầm than, để cho bi kịch thuyền nhân bi thảm xảy ra làm chấn động thế giới mà lănh đạo cho là điều tốt, c̣n nhân dân bị o ép vẫn dửng dưng vô cảm.
(xin xem phần XIV tiếp theo bên dưới...)
adams
03-12-2011, 01:33 PM
XIV - Mao với Việt nam
(tiếp theo và hết)
7-. Bên cạnh Mao, những quần thần cương trực khảng khái yêu nước thương dân th́ ít, cực hiếm, c̣n gian thần xiểm nịnh th́ quá thừa. Những Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Vương Minh, Chu Đức... đều bị thanh trừng, tra khảo, đầy đoạ thể xác và tinh thần đến chết thảm thương. C̣n những gian thần như Lâm Bưu th́ xu nịnh, tâng bốc Mao, cứu Mao khỏi nguy cơ trông thấy rồi cũng bị thải loại và bỏ chạy. Cũng như ở Việt nam, những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Chu Văn Tấn, Dương Bạch Mai, Trần Xuân Bách, Đặng Kim Giang, những trí thức khá lớn Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo..., những văn nghệ sĩ quư tự do như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Hữu Loan, Bùi Minh Quốc, Hà Minh Tuân, Việt Phương... đều bị từ kiểm điểm, tra khảo đến hành hạ, tù đầy, quản thúc, gia đ́nh bị đày đoạ, phân biệt đối xử theo. Rơ ràng ở Việt nam cũng như ở Trung Quốc, những người bị thải loại nh́n chung đều có trí tuệ, tấm ḷng với đất nước và đạo đức cao hơn những kẻ cầm quyền. Thiệt hại cho quê hương, đất nước không sao kể xiết.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/chientranhbiengii979.jpg
“những đôi mắt mang h́nh viên đạn” (Lạng Sơn 1979)
8-. Cho đến thời kỳ ''đổi mới'' hiện nay, ở Trung quốc và Việt Nam vẫn c̣n những kẻ cơ hội sùng bái Mao và chế độ độc đảng, dị ứng với những giá trị của thời đại. Họ đàn áp những chiến sĩ dân chủ, bỏ tù những chiến sĩ dũng cảm dám đứng dậy đ̣i tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do bầu cử cho nhân dân. Điều rất đáng trách là vẫn c̣n những kẻ tự nhận là trí thức mà c̣n mụ mị làm thầy căi cho chế độ độc đảng tệ hại kiểu Mao. Tiêu biểu gần đây là Phạm Toàn nào đó viết bài trên talawas lập luận rằng chớ nên đ̣i quyền dân chủ vội, hăy đợi 15, 20 năm nữa. Anh ta lại c̣n như thích thú lấy mấy cái trung tiện (đánh rắm) hôi hám làm bài học chính trị nhớ đời của ḿnh (!); dân chủ hóa cũng như trung tiện (!), phải chờ cho đến đúng lúc, không sớm quá, không muộn quá. Cái gian xảo của anh trí thức ''dỏm'' này là đưa một hiện tưởng thuộc bản năng hoàn toàn sinh lư áp dụng vào một vấn đề thuộc trí tuệ sáng tạo trong lănh đạo chính trị. Sự mụ mị đến tận cùng, c̣n dơ dáy về trí tuệ và nhân cách! Mà h́nh như anh ta c̣n là nhà sư phạm ! Anh ta hoàn toàn vô cảm không thấy tŕ hoăn trả lại tự do, dân chủ, tŕ hoăn luật pháp chỉ một ngày th́ hàng triệu người dân, đồng bào ḿnh, bị khổ cực oan ức ra sao. Một anh trí thức mụ mị coi Mao là thần tượng ắt trí tuệ bệ rạc đến thế.
9-. Điều quan trọng hơn nữa với bạn đọc Việt nam khi nghiền ngẫm về cuốn sách của Jung và Jon là cái mô h́nh quản lư xă hội mà Staline và Mao đă chọn sau Cách mạng tháng Mười - 1917 ở Nga và sau 1-10-1949 ở Trung quốc, đồng thời ứng dụng mô h́nh ấy ở Việt Nam và hơn 10 nước ''xă hội chủ nghĩa '' khác ở Đông Âu, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, Cuba, cái mô h́nh ấy liệu vẫn c̣n sức sống nào, dù có cải tiến chút ít ?
Đặc điểm của cái mô h́nh ấy là: duy nhất một đảng cộng sản thống trị xă hội không chia sẻ với một đảng phái nào khác; được gọi là độc quyền đảng trị; thực hiện công nghiệp hóa vội vàng gấp gáp, lấy công nghiệp nặng làm trung tâm; hạn chế sở hữu cá nhân, tiêu diệt quyền tư hữu; nghiêm cấm tự do báo chí và thủ tiêu quyền tự do tín ngưỡng; thủ tiêu nền văn hóa truyền thống dân tộc, thực hiện văn hóa vô sản, thực tế là nền văn hóa cổ súy đấu tranh giai cấp tàn bạo, đẫm máu, đầy bạo lực, bất công.
Cả mô h́nh này đă đổ vỡ, phá sản tận gốc ở Liên Xô; Staline đă bị hạ bệ, bị cả thế giới và dân Liên Xô nhận ra là kẻ sát nhân tàn bạo hơn phát xít Hitler, nay đến lượt Mao đang được dân Trung quốc và thế giới nhận định lại cho thật đúng với thực tế. Các nhà lănh đạo đảng cộng sản Trung quốc có thái độ nửa vời, đổi mới chút ít về chính trị và văn hóa, đổi mới nhiều hơn về kinh tế, nhưng vẫn duy tŕ chế độ độc quyền đảng trị. Trong Đại hội XVII (tháng 10-2007) họ vẫn nhắc đến Marx và Mao là bậc thầy; họ không dám hạ bệ Mao, họ đưa ra luận thuyết: ''Mao có 2 phần đúng, một phần sai'' có nghĩa về cơ bản vẫn là nhân vật lịch sử có nh́êu thành tích và cống hiến.
Công tŕnh của Jung và Jon chính là một công tŕnh khoa học lịch sử đồ sộ, đáng tin cậy, chứng minh Mao là một nhân vật hoàn toàn tiêu cực, là kẻ giết người hàng loạt, là tên đao phủ sô 1 trong lịch sử loài người, là tên dâm loạn, kẻ vô đạo đức, đầy thú tính, chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh mạng Trung quốc và các nước, trong đó có nhân dân Việt Nam, Triều Tiên, Cambốt, Lào, Mông Cổ, Tây Tạng ... Cuốn sách đang đi dần, ngấm dần vào nhận thức của nhân dân Trung Hoa, lay động lương tri và trách nhiệm của họ đối với hiện tại và tương lai đất nước. Đây có thể là cuốn sách có sức lay động sâu rộng nhất trong lịch sử hiện đại Trung quốc. Jung và Jon đă làm một việc tốt đẹp và cao quư, lại rất thiết thực.
10-. Cuốn sách cho ta bài học lớn. Hăy t́m cho ra sự thật. Hăy cùng nói lớn lên sự thật. Sự thật và nhân dân quư hơn tất cả, đáng trọng hơn tất cả. Dù là Staline, dù là Mao, dù bất cứ ai khác một thời được nể trọng, được sùng bái cũng phải đặt dưới nhân dân. Nhân dân nuôi sống chúng ta. Nhân dân làm nên lịch sử. Cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao quư nhất. Kẻ ngự trị trên đầu nhân dân, đẩy dân vào lầm than tủi cực chết chóc lạc hậu không thể là người tốt, đáng kính được. Phải biết hoài nghi một cách khoa học. Tự ḿnh tập độc lập suy nghĩ, tự t́m ra sự thật và chân lư cho ḿnh, cho đồng bào ḿnh. Jung và Jon đă lật nhào thần tượng, không chửi bới, không thóa mạ, không đao to búa lớn. Lời lẽ ôn tồn, đưa ra nhân chứng, bằng chứng, để cho bạn đọc suy nghĩ và kết luận.
11-. Cuốn sách có một số lần nói đến Việt nam, đến Hồ Chí Minh gặp Mao và gặp Staline ở Moscow cuối năm 1949. Tác giả kể rằng cuối đời ḿnh, Mao tỏ ra hài ḷng với Chu Ân Lai ngay khi Chu đang bị bệnh ung thư hành hạ, vào cuối năm 1974, Chu vẫn chỉ đạo việc cho quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa (Paracels) do quân đội Việt Nam Cộng Ḥa ở miền Nam đóng giữ, trước khi quần đảo này kịp rơi vào tay các đồng chí của họ ở Bắc Việt Nam.
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/bia-HoangSa1974.jpg
http://i122.photobucket.com/albums/o256/thongluan/biaHoangSa-Tau.jpg
Bia kỷ niệm tại Hoàng Sa do hải quân VNCH lập trước 1974 và bia do hải quân Trung Quốc bịa, ghi là do Trung Hoa Dân Quốc (!) lập năm 1935
Chỉ một nét ấy thôi là đủ để thấy rơ và sâu tham vọng của Mao, của Chu, của Đặng Tiểu B́nh đối với Việt Nam ta. Chưa nói đến chuyện 5 năm sau đó, tháng 2-1979, Đặng xua quân vào 6 tỉnh miền Bắc nước ta giáp giới với Trung quốc tàn phá tan hoang từ nhà ở của dân, phá từ giường tủ, nồi niêu, bát đĩa cho đến nhà máy, trường học, bệnh xá, cầu cống, đường sắt... đến hàng vạn xác chết đồng bào và chiến sĩ ta. Vậy mà đảng vẫn không cho nhắc đến những ngày ''kỷ niệm đen tối'' hằng năm này, không cho đặt ṿng hoa trước các mộ liệt sĩ, sợ làm phật ḷng các đồng chí Trung quốc đàn anh.
Jung và Jon gợi ư cho người Việt ta một suy nghĩ sâu xa: ta được hưởng lợi ǵ khi suy tôn Mao làm lănh tụ chính trị và tinh thần, khi lấy tư tưởng Mao làm nền tảng, để đến bây giờ vẫn tôn những người kế thừa Mao là đồng chí, là anh em, là nguồn kinh nghiệm quư?
Cuốn sách của Jung và Jon nhắn nhủ người Việt chúng ta rằng: người Trung quốc chúng tôi đă nhận ra bộ mặt thật của Mao rồi đó, dù cho những người cầm quyền ở Bắc Kinh vẫn c̣n giả đui giả mù. Mao thực sự chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh linh, trong đó có hàng triệu đồng bào Việt nam của các bạn rồi đó. Các bạn có nên tiếp tục theo tư tưởng của Mao, mô h́nh quản lư xă hội của Mao, vừa gia giảm lại vừa giữ ǵn học thuyết Mao, phi Mao hóa một cách nửa vời, vừa nói dân chủ vừa giữ độc quyền một đảng, vừa nói dân chủ vừa cấm tư nhân làm báo, ông Nguyễn Minh Triết nói y hệt như Hồ Cẩm Đào, ông Nguyễn Tấn Dũng nói y hệt như Ôn Gia Bảo, có nên như vậy măi chăng?
Cuốn sách này, các đảng viên cộng sản Việt nam cần đọc, trí thức Việt nam cần đọc, tuổi trẻ Việt nam cần đọc. Những người lănh đạo, cầm quyền cần đọc. Để rồi t́m cho ra sinh lộ cho nước ta, cho dân ta.
Giữa lúc một số trí thức văn nghệ sĩ có tâm huyết đề ra tổ chức một cuộc trao đổi về t́nh h́nh và lối ra cho dân tộc ta, khởi đầu bởi các bạn Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Lê Hồng Hà, Phan Đ́nh Diệu, Lê Đăng Doanh, Mai Thái Lĩnh... cuốn sách Những điều chưa biết về Mao ra mắt thật đúng lúc, v́ mối quan hệ Việt - Trung luôn có ư nghĩa quyết định đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của Việt nam ta. Độc lập, tự chủ, chủ quyền toàn vẹn, quan hệ hợp tác b́nh đẳng, hội nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ văn minh phải chăng là con đường phải theo của nhân dân ta trong quan hệ Việt - Trung. Từ bỏ dứt khoát thái độ sùng bái, phụ thuộc, bất b́nh đẳng, quỵ lụy, đàn em, để bị lấn lướt hiếp đáp miệt thị, thiệt hại đủ đường và không sao lường hết...
Khi biết và đọc những bài này, từ trong nước một số người c̣n nặng ḷng với ''bác Mao'' sẽ lại vu cáo tôi là theo lập trường phản động, bôi xấu đảng và nhà nước ta, rồi lải nhải là tôi bất măn, phá hoại. Xin tŕnh cả làng: tôi cất công phỏng dịch và tóm tắt công tŕnh này chỉ v́ ḷng ngay dạ thẳng, v́ thương dân ḿnh chưa có tự do, yêu đồng bào ḿnh chưa hoàn toàn giải thoát khỏi nạn độc quyền đảng trị, xót xa với tuổi trẻ ḿnh c̣n bị mê hoặc, nên quê hương ta vẫn hèn kém so với thiên hạ. Cái nhục lớn này toàn dân ta hăy tỉnh dậy. Cuốn sách này là loại sách thức tỉnh. Cần và quư lắm.
Các bạn hăy t́m đọc toàn bộ cuốn sách đồ sộ, phong phú, biên tập cực kỳ công phu, với tâm huyết tràn đầy này. Không ǵ thay được nguyên bản. Trong khi chờ đợi, xin hăy vui ḷng với bản phỏng dịch và tóm tắt trong 14 bài này, tôi làm gấp trong 3 tháng qua, miệt mài, say mê, ở tuổi 80, không tránh khỏi sơ xuất, xin được miễn thứ.
Một số tên Trung quốc trong sách này, là do anh Phùng Nguyên ở Paris phiên âm giúp ra tiếng Việt, xin cám ơn anh. Xin chân thành cám ơn các bạn.
Paris, tháng 10-2007
Bùi Tín
(lược thuật theo Jung Chang & Jon Halliday)
Tái bút: Các bạn quư mến,
Khi cuốn sách nhỏ này đang in, tôi nhận được email của Jung Chang và Jon Halliday gửi từ London với những lời như sau:
’'Chúng tôi hết sức vui mừng được bạn cho biết cuốn sách của chúng tôi về Mao đă có ích và bạn đă sử dụng cuốn sách cho những bài viết của bạn.
Cuốn sách đă được in rất đẹp bằng chữ Hán ở Hong Kong và phát hành tốt ở Đài loan. Tuy bị cấm trên lục địa, nhưng một số cuốn đă vào trong nước. Một số ấn bản khác được in trộm và phát hành rộng ngay trong nước, chưa kể một số bản khác được lấy xuống từ máy computer. Từ trong nước, chúng tôi được biết một người lái xe tải đă chở sách này vào tỉnh Tứ Xuyên để bán.
Dù cho chính quyền ngăn cấm, cuốn sách được nhiều nhận xét và b́nh luận thuận lợi từ người trong nước.
Ở Bắc kinh, một người nước ngoài đă mua được bản tiếng Anh từ trong một hiệu sách...''
Xin chia sẻ niềm vui trên với các bạn.
vBulletin® v3.8.7, Copyright ©2000-2013, vBulletin Solutions, Inc.